1. Hiểu thế nào về thành phố trực thuộc tỉnh?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (được sửa đổi vào năm 2019), thành phố trực thuộc tỉnh đóng vai trò là một đơn vị hành chính cấp huyện thuộc chế độ chính trị của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sự thay đổi này đã được thực hiện nhằm tăng cường quản lý và tổ chức chính quyền cấp địa phương trong đất nước. Thành phố trực thuộc tỉnh, còn được biết đến với tên gọi thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố hạng tỉnh, là một cấp hành chính quan trọng và có sự phân cấp rõ ràng.

Theo đó, thành phố trực thuộc tỉnh có nhiệm vụ quản lý các hoạt động hành chính, kinh tế, xã hội trên địa bàn của mình. Nó có quyền tự chủ và quyền lập pháp trong một số lĩnh vực cụ thể, nhưng vẫn phải tuân thủ các quy định và chính sách của chính phủ trung ương. Cấp huyện của thành phố trực thuộc tỉnh đóng vai trò là một cấp quản lý trung gian giữa cấp tỉnh và cấp xã. Chính quyền cấp huyện có trách nhiệm thực hiện các chính sách của chính phủ và đồng thời giám sát và hỗ trợ các đơn vị cấp xã trong việc thực hiện công tác quản lý địa phương.

Việc sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương nhằm tạo ra sự rõ ràng và hiệu quả hơn trong việc quản lý và điều hành các thành phố trực thuộc tỉnh. Điều này góp phần tăng cường sự phát triển kinh tế, xã hội và địa phương, đồng thời nâng cao vai trò và tầm quan trọng của các đơn vị hành chính cấp huyện trong hệ thống chính quyền địa phương của Việt Nam.

 

2. Tiêu chuẩn phân loại đơn vị hành chính thành phố trực thuộc tỉnh?

Theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết 1211/2016/UBTVQH13, để trở thành thành phố thuộc tỉnh, cần phải đáp ứng một số tiêu chuẩn như sau:

- Quy mô dân số: Thành phố thuộc tỉnh phải có dân số từ 150.000 người trở lên.

- Diện tích tự nhiên: Thành phố thuộc tỉnh phải có diện tích tự nhiên từ 150 km2 trở lên.

- Đơn vị hành chính trực thuộc: Thành phố thuộc tỉnh phải có ít nhất 10 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, và tỷ lệ số phường trên tổng số đơn vị hành chính cấp xã phải từ 65% trở lên.

- Loại đô thị: Thành phố thuộc tỉnh phải đã được công nhận là đô thị loại I, loại II hoặc loại III. Ngoài ra, cũng được xem xét là thành phố thuộc tỉnh nếu là khu vực dự kiến thành lập thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, và đã đạt tiêu chí của đô thị loại I, loại II hoặc loại III.

- Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Thành phố thuộc tỉnh cần đáp ứng các tiêu chí sau đây, được quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Nghị quyết 1211/2016/UBTVQH13:

+ Cân đối thu chi ngân sách: Thành phố phải có dư ngân sách.

+ Thu nhập bình quân đầu người năm so với cả nước: Thu nhập bình quân đầu người của thành phố phải cao hơn trung bình cả nước ít nhất 1,05 lần.

+ Mức tăng trưởng kinh tế trung bình 3 năm gần nhất: Mức tăng trưởng kinh tế của thành phố phải đạt bình quân của tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương trong 3 năm gần nhất.

+ Tỷ lệ hộ nghèo trung bình 3 năm gần nhất: Tỷ lệ hộ nghèo của thành phố phải đạt bình quân của tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương trong 3 năm gần nhất.

+ Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của thành phố phải đạt 80%.

+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp nội thành, nội thị, thị trấn, quận và phường: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong các khu vực nội thành, nội thị, thị trấn, quận và phường của thành phố phải đạt 80%.

Những tiêu chuẩn này được áp dụng để đảm bảo rằng thành phố thuộc tỉnh đủ quy mô và có khả năng quản lý, phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, việc đáp ứng các tiêu chuẩn này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức và điều hành các hoạt động địa phương.

 

3. Tiêu chuẩn phân loại và cách tính điểm phân loại đơn vị hành chính thành phố thuộc tỉnh

Tiêu chuẩn phân loại và cách tính điểm phân loại đơn vị hành chính thành phố thuộc tỉnh được quy định tại Điều 17 Nghị quyết 1211/2016/UBTVQH13 có các chỉ tiêu và điểm số tương ứng như sau:

- Quy mô dân số:

+ Đơn vị hành chính thành phố với quy mô dân số từ 50.000 người trở xuống được tính 10 điểm.

+ Với mỗi 4.000 người trên con số 50.000, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 30 điểm.

-  Diện tích tự nhiên:

+ Đơn vị hành chính thành phố với diện tích tự nhiên từ 50 km2 trở xuống được tính 10 điểm.

+ Với mỗi 0,5 km2 bổ sung trên con số 50 km2, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 25 điểm.

- Số đơn vị hành chính trực thuộc:

+ Nếu có từ 10 đơn vị hành chính cấp xã trở xuống, sẽ được tính 2 điểm.

+ Với mỗi đơn vị hành chính cấp xã bổ sung trên con số 10, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 6 điểm.

+ Tỷ lệ số phường trên tổng số đơn vị hành chính cấp xã cũng được tính điểm. Nếu tỷ lệ này từ 35% trở xuống, sẽ được tính 1 điểm. Với mỗi 5% tăng thêm trên con số 35%, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 4 điểm.

- Trình độ phát triển kinh tế-xã hội:

+ Đơn vị hành chính thành phố có khả năng tự cân đối thu, chi ngân sách địa phương sẽ được tính 10 điểm.

+ Trong trường hợp không tự cân đối được, điểm số sẽ được tính dựa trên tỷ lệ thu ngân sách địa phương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương. Nếu tỷ lệ này từ 50% trở xuống, sẽ được tính 3 điểm. Với mỗi 5% tăng thêm trên con số 50%, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 8 điểm.

+ Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế cũng quyết định điểm số. Nếu tỷ trọng này từ 70% trở xuống, sẽ được tính 1 điểm. Với mỗi 5% tăng thêm trên con số 70%, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 4 điểm.

+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và tỷ lệ lao động qua đào tạo cũng ảnh hưởng đến điểm số. Nếu tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở xuống, sẽ được tính 1 điểm. Với mỗi 5% tăng thêm trên con số 60%, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 4 điểm. Tương tự, nếu tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 30% trở lên, sẽ được tính 1 điểm. Với mỗi 5% tăng thêm trên con số 30%, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 4 điểm.

- Sản lượng kinh tế:

Sản lượng kinh tế được tính dựa trên sản lượng công nghiệp và dịch vụ. Nếu sản lượng này từ 30.000 tỷ đồng trở lên, sẽ được tính 10 điểm. Với mỗi 5.000 tỷ đồng tăng thêm trên con số 30.000 tỷ đồng, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 15 điểm.

- Tỉ lệ việc làm:

Tỉ lệ việc làm được sẽ tính dựa trên số lao động có việc làm so với tổng số lao động. Nếu tỷ lệ này từ 70% trở lên, sẽ được tính 10 điểm. Với mỗi 5% tăng thêm trên con số 70%, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 10 điểm.

- Quy mô đô thị:

Đơn vị hành chính thành phố có quy mô đô thị từ 30% trở lên (tỷ lệ đô thị so với tổng dân số) sẽ được tính 10 điểm. Với mỗi 5% tăng thêm trên con số 30%, sẽ được cộng thêm 0,5 điểm, nhưng điểm số tối đa không quá 10 điểm.

Bài viết liên quan: Quy định mới chế độ phụ cấp theo phân loại đơn vị hành chính mới nhất?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Tiêu chuẩn phân loại đơn vị hành chính thành phố trực thuộc tỉnh? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!