1. Tiêu hôn là gì ?
Tiêu hôn là biện pháp chế tài của pháp luật nhằm mục đích tiêu huỷ giá thú (tiêu huỷ hôn nhân) khi có bằng chứng để chứng tỏ rằng, việc giá thú (hay hôn nhân) đó đã vi phạm các điều kiện mà pháp luật quy định khi lập giá thú. Những người có quyền yêu cầu tiêu hôn có thể khởi tố ra Toà án yêu cầu phán xét tuyên tiêu huỷ giá thú vô hiệu.
Tiêu hôn cũng là một thuật ngữ pháp lí được sử dụng trong pháp luật dân sự Việt Nam thời kì Pháp thuộc và ở miền Nam thời kì trước năm 1975. Tiêu hôn được bắt nguồn từ gốc chữ Hán (chữ Tiêu là tiêu huỷ, thủ tiêu; chữ Hôn là chỉ sự hôn nhân hay giá thú; Tiêu hôn là tiêu huỷ hôn nhân hay tiêu huỷ giá thú), thuật ngữ này được sử dụng đồng nghĩa với thuật ngữ “Huỷ việc kết hôn trái pháp luật trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Xt. Huỷ việc kết hôn trái pháp luật).
2. Quy định pháp luật về tiêu hôn
Pháp luật dân sự Việt Nam thời kì Pháp thuộc (Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật 1936) quy định, các trường hợp lập giá thú mà vi phạm các điều kiện do luật định sẽ bị xử lí tiêu hôn như: vi phạm độ tuổi lập giá thú; vi phạm các trường hợp cấm không được lập giá thú; không có sự tự nguyện của hai bên trai, gái, có sự nhầm lẫn hay bị cưỡng ép; không được cha mẹ đôi bên đồng ý; việc giá thú không được tiến hành trước mặt viên hộ lại; một trong hai bên trai gái đã có vợ hoặc có chồng mà chưa tiêu hôn hoặc li hôn...
Về hậu quả pháp lí của việc tiêu hôn, pháp luật có quy định, sau khi Toà án ra phán quyết tiêu huỷ giá thú, tài sản của vợ chồng được thanh toán như khi li hôn, con sinh ra trong cuộc hôn nhân đó vẫn là con chính thức, các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cũng được áp dụng như khi li hôn và việc tiêu hôn phải được viên hộ lại ghi vào sổ hộ tịch (Xem Điều 89, Điều 90 Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật 1936).
Pháp luật dân sự miền Nam Việt Nam (trước năm 1975, thông qua Luật gia đình trong Sắc Luật 15/64 ngày 23.7.1964 và Bộ Dân luật 1972) cũng có quy định về tiêu hôn (tiêu huỷ giá thú) và các trường hợp có thể dẫn đến tiêu hôn bao gồm:
1) Không có sự tự nguyện giá thú của một bên hoặc cả hai bên vợ chồng;
2) Một trong hai bên vợ chồng có sự nhầm lẫn hay bị cưỡng bức giá thú;
3) Vợ hoặc chồng chưa đến tuổi giá thú do pháp luật quy định (trừ trường hợp người vợ đã có con hoặc đang có thai);
4) Có sự loạn luân (hai bên nam nữ là anh em họ hàng với nhau thuộc các trường hợp pháp luật cấm giá thú);
5) Song hôn (tức là lấy vợ, lấy chồng mới mà chưa li hôn với người vợ, người chồng trước);
6) Giá thú và hôn lễ được cử hành không công khai hoặc tiến hành trước một viên chức hộ lại không có thẩm quyền; 7) Việc cử hành hôn lễ trái phép có tính cách gian lận.
Ngoài ra, pháp luật còn quy định trường hợp người vợ hoặc người chồng bỏ đi biệt tích quá 2 năm, thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố người vợ, người chồng bỏ đi là mất tích và xin tiêu huỷ giá thú với người đó.
Người có quyển đệ đơn yêu cầu Toà án phán xét, tuyên tiêu huỷ giá thú là người vợ, người chồng, công tố viên và những người có quyền lợi liên quan do pháp luật quy định. Khi có các căn cứ như đã nêu ở trên, Toà án sẽ xem xét và ra phán quyết tiêu huỷ giá thú pháp luật.
3. Quy định pháp luật về kết hôn trái pháp luật
Hiên nay, thuật ngữ ”Tiêu hôn" không còn được sử dụng trong Luật hôn nhân và gia đình mà được thay thế bằng thuật ngữ “Huÿ việc kết hôn trái pháp luật.
3.1 Khái niệm kết hôn trái pháp luật
Theo quy định tại khoản 6 điều 3 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:
Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.
Điều 8: Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
3.2 Ai có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:
+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
+ Hội liên hiệp phụ nữ.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
4. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật
- Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự.
- Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.
- Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.
5. Thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải nộp Giấy chứng nhận kết hôn đối với cá nhân quy định tại khoản 1 điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình hoặc giấy tờ, tài liệu khác chứng minh đã đăng ký kết hôn; tài liệu, chứng cứ chứng minh việc kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng không cung cấp được Giấy chứng nhận kết hôn do bị thất lạc thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn.
- Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại khoản 6 điều 3 và điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình khi việc kết hôn đó đã được đăng ký tại đúng cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn được xác định theo quy định của pháp luật về hộ tịch, pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Trường hợp nam, nữ đăng ký kết hôn tại đúng cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn mà yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 4 của Thông tư liên tịch này.
Trường hợp việc kết hôn được đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền hoặc trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu Tòa án giải quyết thì thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.
- Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ đồng thời hủy Giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định tại điều 13 của Luật hôn nhân và gia đình . Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ đối với con; tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại điều 15 và điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng điều 9 và điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại điều 15 và điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.
Trân trọng./.