- 1. Ngân hàng là gì?
- 2. Hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân hàng
- 2.1. Hành vi cấm liên quan đến đồng tiền Việt Nam
- 2.2. Hành vi bị cấm trong luật các công cụ chuyển nhượng
- 2.3. Hành vi bị cấm trong luật phòng, chống rửa tiền
- 2.4. Hành vi bị cấm trong luật các tổ chức tín dụng năm 2010
- 3. Các vụ tội phạm ngân hàng điển hình?
- 3.1. Vụ án mất tiền gửi Huỳnh Thị Huyền Như
- 3.2. Vụ án về cướp Ngân hàng
- 3.3. Nguyên nhân dẫn đến tội phạm ngân hàng
Thưa luật sư, xin luật sư hệ thống giúp tôi các hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân hàng gồm những hành vi nào ạ? Hiện tôi đang cần để thực hiện đề tài nghiên cứu trong nội bộ ?
Rất mong nhận được câu trả lời của luật sư. Trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Dũng - Hải Phòng)
Luật sư tư vấn:
1. Ngân hàng là gì?
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Xem thêm: Tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng là gì? Nhận diện tội phạm ngân hàng?
2. Hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân hàng
Cũng như các lĩnh vực khác, việc cấm trong lĩnh vực ngân hàng cũng được diễn đạt bằng ba từ khác nhau là: không được, cấm và nghiêm cấm.
2.1. Hành vi cấm liên quan đến đồng tiền Việt Nam
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấm một số hành vi liên quan đến đồng tiền Việt Nam như: làm, vận chuyển, tàng trữ, lưu hành tiền giả; hủy hoại đồng tiền; từ chối nhận, lưu hành đồng tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông (Điều 23)
2.2. Hành vi bị cấm trong luật các công cụ chuyển nhượng
Luật Các công cụ chuyển nhượng cấm một số hành vi sau đây: (Điều 15)
Thứ nhất, làm giả công cụ chuyển nhượng, sửa chữa hoặc tẩy xóa các yếu tố trên công cụ chuyển nhượng;
Thứ hai, cố ý chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng hoặc xuất trình để thanh toán công cụ chuyển nhượng bị làm giả, bị sửa chữa, bị tẩy xóa;
Thứ ba, ký công cụ chuyển nhượng không đúng thẩm quyền hoặc giả mạo chữ ký trên công cụ chuyển nhượng;
Thứ tư, chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng khi đã biết bị quá hạn thanh toán hoặc đã bị từ chối chấp nhận, thanh toán hoặc đã được thông báo bị mất;
Thứ năm, cố ý phát hành công cụ chuyển nhượng khi không đủ khả năng thanh toán;
Thứ sáu, cố ý phát hành séc sau khi bị đình chỉ quyền phát hành séc.
2.3. Hành vi bị cấm trong luật phòng, chống rửa tiền
Luật Phòng chống rửa tiền năm 2012 tiền cấm một số hành vi sau đây: (Điều 7)
Thứ nhất, tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện thực hiện hành vi rửa tiền;
Thứ hai, thiết lập hoặc duy trì tài khoản vô danh hoặc tài khoản sử dụng tên giả;
Thứ ba, thiết lập và duy trì quan hệ kinh doanh với ngân hàng được thành lập tại một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhưng không có sự hiện diện hữu hình tại đó và không chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý có thẩm quyền;
Thứ tư, cung cấp trái phép dịch vụ nhận tiền mặt, séc, công cụ tiền tệ khác hoặc công cụ lưu trữ giá trị và thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng tại một địa điểm khác;
Thứ năm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong phòng, chông rửa tiền xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
Thứ sáu, cản trở việc cung cấp thông tin phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền;
Thứ bày, đe dọa, trả thù ngưòi phát hiện, cung cấp thông tin, báo cáo, tố cáo về hành vi rửa tiền.
2.4. Hành vi bị cấm trong luật các tổ chức tín dụng năm 2010
Đặc biệt, Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010 (Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017) cấm nhiều hành vi như sau:
Thứ nhất, nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán; (khoản 2 Điều 8)
Thứ hai, nghiêm cấm hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh có nguy cơ hoặc gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thông các tổ chức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; (khoản 2 Điều 9)
Thứ ba, không được tự ý ngừng giao dịch vào thời gian đã công bố, trừ trường hợp được phép hoặc bất khả kháng; (khoản 5 Điều 10)
Thứ tư, không được che giấu, thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp; (khoản 1 Điều 11)
Thứ năm, nhân viên, người quản lý, người điều hành của tổ chức tín dụng không được tiết lộ bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng; (khoản 1 Điều 14)
Thứ sáu, tổ chức tín dụng không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng cho tổ chức, cá nhân khác, trừ các trường hợp được phép; (khoản 3 Điều 14)
Thứ bảy, không được tẩy xóa, mua, bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng; (khoản 2 Điều 27)
Thứ tám, Điều lệ của tổ chức tín dụng không được trái với quy định của pháp luật; (khoản 1 Điều 31)
Thứ chín, các chức vụ quản lý, điều hành, kiểm soát tổ chức tín dụng không được đảm nhiệm và kiêm nhiệm trong một số trường hợp; (Điều 33, Điều 34)
Thứ mười, người quản lý, điều hành, kiểm soát tổ chức tín dụng không được tạo điều kiện để bản thân hoặc người có liên quan của mình vay vốn, sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác với những điều kiện ưu đãi, thuận lợi hơn so với quy định chung; không được tăng lương, thù lao hoặc yêu cầu trả thưởng khi tổ chức tín dụng bị lỗ; (khoản 7, 8 Điều 38)
Thứ mười một, người quản lý, điều hành, kiểm soát của tổ chức tín dụng không được mua cổ phần ưu đãi cổ tức do tổ chức tín dụng đó phát hành; (khoản 3, khoản 7 Điều 52)
Thứ mười hai, người được cổ đông ủy quyền không được ứng cử với tư cách của chính mình; (khoản 8 Điều 53)
Thứ mười ba, cổ đông phổ thông của tổ chức tín dụng không được rút vốn cổ phần dưới mọi hình thức dẫn đến việc giảm vốn điều lệ; không được góp vốh, mua cổ phần của tổ chức tín dụng dưới tên của cá nhân, pháp nhân khác dưới mọi hình thức, trừ trường hợp ủy thác theo quy định của pháp luật; (điểm b, c khoản 1 Điều 54)
Thứ mười bốn, cổ đông và người có liên quan không được sở hữu vượt quá tỷ lệ vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng; (khoản 1,2 Điều 55)
Thứ mười lăm, cổ đông là cá nhân hoặc là tổ chức có người đại diện là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của tổ chức tín dụng không được chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời gian đảm nhiệm chức vụ; thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc không được chuyển nhượng cổ phần trong thời gian đang xử lý hậu quả theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước do trách nhiệm cá nhân, trừ một số trường hợp; (khoản 1 Điều 56)
Thứ mười sáu, cá nhân và người có liên quan của cá nhân đó hoặc những ngưòi đại diện vốn góp của một cổ đông là tổ chức và người có liên quan của những người này không được tham gia vượt quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng quản trị của một tổ chức tín dụng cổ phần, trừ trường hợp là ngưòi đại diện phần vôh. góp của nhà nước; (khoản 2 Điều 62)
Thứ mười bảy, thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên không được biểu quyết những vấn đề xung đột lợi ích vói thành viên đó trong Hội đồng; (khoản 4 Điều 65, khoản 4 Điều 69)
Thứ mười tám, tổng số thành viên góp vốn của tổ chức tín dụng trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được vượt quá 5 thành viên và phải là pháp nhân, trừ đối với tổ chức tín dụng vi mô. (khoản 1 Điều 70)
Ngoài ra còn nhiều hành vi bị cấm theo các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật như pháp lệnh, nghị định, thông tư.
Nếu vi phạm các điều cấm nói trên có thể bị xử lý vi phạm hành chính, trường hợp nghiêm trọng thì có thể bị xử phạt hình sự và Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005.
3. Các vụ tội phạm ngân hàng điển hình?
Chào công ty luật Minh Khuê, xin hãy giải đáp giúp tôi thắc mắc sau ạ. Xin luật sư cho biết các loại tội phạm ngân hàng điển hình? Nguyên nhân dân tới các hành vi phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng là gì?
Rất mong nhận được tư vấn của luật sư. Chân thành cảm ơn!
(Hoàng Việt - Hà Nam)
Trả lời:
Trong thập kỷ 2010 đã xảy ra nhiều vụ án hình sự nổi cộm gây ra những tranh cãi phức tạp trước việc xác định trách nhiệm của khách hàng, ngân hàng và nhân viên ngân hàng liên quan đến việc thất thoát tiền gửi, tiền vay, chiếm đoạt tài sản và không thực hiện nghĩa vụ thế chấp, bảo lãnh.
3.1. Vụ án mất tiền gửi Huỳnh Thị Huyền Như
Những vụ mất tiền gửi hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng của khách hàng, mà điển hình là vụ Huỳnh Thị Huyền Như tại Vietinbank năm 2011, đã tạo ra một tiền lệ đặc biệt xấu trong việc quy kết trách nhiệm bồi thường của ngân hàng, thường có chung mấy điểm bất thường khá điển hình như sau:
Thứ nhất, giao dịch gửi tiền có sự bất thường, như gửi với lãi suất cao hơn bình thường, gửi bằng hợp đồng tiền gửi thay vì bằng thẻ tiết kiệm. Tuy nhiên, điều đó vẫn thưòng diễn ra trên thực tế đối với một số ngân hàng tại những thời điểm khác nhau;
Thứ hai, hợp đồng tiền gửi bị chuyển đổi thành thẻ tiết kiệm một cách bất thường. Việc chuyển đổi mà người gửi tiền không hề hay biết chính là một trong những sơ hở của ngân hàng tiếp tay cho tội phạm;
Thứ ba, giao dịch cầm cố tiền gửi có sự bất thường, trái với ý chí của ngưòi gửi tiền. Vay tiền cầm cố bằng chính tiền mới gửi được một thời gian ngắn, thậm chí ngay trong ngày gửi tiền sẽ bất lợi và phức tạp hơn việc rút tiền ra. Ngân hàng cũng không giải quyết cho vay lấy được như vậy. Đây chính là vi phạm nghiêm trọng nhất, là nguyên nhân quyết định dẫn đến hậu quả mất tiền;
Thứ tư, số tiền gửi đã bị ngân hàng định đoạt tất toán trừ nợ một cách bất thưòng. Ngân hàng chấp nhận chữ ký giả chủ sở hữu thẻ tiết kiệm để cầm cố, tức là nhận cầm cố bất hợp pháp, thì việc thu nợ từ tiền gửi là trái pháp luật. Ngoài ra, khi tất toán thẻ tiết kiệm để trả nợ vay, với số tiền hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng, mà ngân hàng không hề thông báo cho ngưòi gửi tiền.
Trong các vụ xử tội kẻ lừa đảo chiếm đoạt tiền của ngân hàng, thì đương nhiên là phải có người bị lừa. Nạn nhân không thể là ngân hàng chung chung, mà phải là những cán bộ, nhân viên bằng da, bằng thịt, trực tiếp tham gia giao dịch. Họ chính là nạn nhân thực sự, là những người bị tội phạm lừa đảo. Nhưng dường như có những nghịch lý đang bị coi là hiển nhiên, đó là luôn phải có cán bộ ngân hàng “đồng hành” với tội phạm lừa đảo.
3.2. Vụ án về cướp Ngân hàng
Trong những năm từ 2010 đến 2019, đã xảy ra nhiều vụ cướp ngân hàng.
Theo Báo Dân trí điện tử, khoảng 12h ngày 05/4/2010 một tên cướp đã bịt mặt, dùng dao và súng khống chế 3 nhân viên tại một phòng giao dịch trên đường Đê La Thành, quận Đông Đa, Hà Nội cướp đi khoảng 90 triệu đồng.
Trong vụ này, để bảo đảm an toàn tính mạng, nhân viên ngân hàng đã dừng ý định bấm chuông báo động khi bị tên cướp phát hiện và rút dao ra đe dọa. Vụ án này vẫn chưa bắt được tội phạm.
Theo Báo An ninh thế giới điện tử, khoảng 12hl5 ngày 10/01/2012, một tên cướp đã đeo khẩu trang, dùng dao và mìn giả để không chế nhân viên ngân hàng cướp 50 triệu đồng tiền mặt tại một phòng giao dịch ngân hàng thương mại tại đường Hoàng Quốc Việt, quận cầu Giấy, Hà Nội.
Trong vụ này, do nơi giao dịch chỉ có 2 người, nên nhân viên ngân hàng đã tìm cách trì hoãn kéo dài để chờ người đến hỗ trợ, đồng thời chỉ bấm chuông báo động, cũng như tri hô sau khi tên cướp đã ra khỏi ngân hàng và đã bắt được tội phạm ngay sau khi hắn ra khỏi ngân hàng.
Theo Báo An ninh thủ đô điện tử, khoảng 14h23 ngày 13/9/2018, một tên cướp đã đeo khẩu trang che kín mặt và dùng súng xông vào cướp hơn 940 triệu đồng tại một phòng giao dịch ngân hàng ỏ xã Tân Lý Tây, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Trong vụ này, do sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ khoảng 2 phút, nên nhân viên ngân hàng chỉ hô hoán và bấm chuông báo động sau khi tội phạm đã rút khỏi. Sau 3 ngày, nghi phạm đã bị bắt.
Theo Báo Công an nhân dân điện tử, khoảng 14h45 ngày 18/01/2019, một tên cướp đã mang súng tự chế vào khu vực giao dịch của một ngân hàng thương mại tại phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, uy hiếp, khống chế yêu cầu giao dịch viên ngân hàng vừa chuyển tiền, vừa phải cho tiền mặt vào túi của hắn.
Trong vụ này, giao dịch viên đã bình tĩnh thực hiện các thao tác giao dịch nghiệp vụ, thủ kho và nhân viên bảo vệ ngân hàng đã khôn khéo bấm chuông báo động liên hệ với Công an bắt giữ tội phạm ngay tại hiện trường.
Theo Báo An ninh tiền tệ điện tử và một số báo khác, chỉ từ trong 3 năm, từ 2016 đến 2018 đã xảy ra ít nhất 12 vụ cướp ngân hàng táo tợn khác với số tiền từ 50 triệu cho đến 4,5 tỷ đồng.
3.3. Nguyên nhân dẫn đến tội phạm ngân hàng
Xảy ra nhiều vụ cướp ngân hàng như trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc bảo vệ, phòng ngừa của các ngân hàng còn thiếu chặt chẽ, an toàn. Vì vậy, ngày 17/9/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Công văn số 2903/TTGSNH1, yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng cường công tác an toàn tại các điểm giao dịch. Ngày 29/9/2018, Bộ Công an cũng đã ban hành công điện chỉ đạo tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn tội phạm cướp tài sản tại các chi nhánh, điểm giao dịch ngân hàng. Trong Công điện này, Bộ Công an nhận định, công tác phòng ngừa, ý thức cảnh giác của các bảo vệ, nhân viên ngân hàng chưa cao, còn nhiều sơ hở, thiếu kỹ năng giải quyết, xử lý các tình huống bất ngờ. Hệ thống camera giám sát, theo dõi, cảnh báo của các ngân hàng còn hạn chế, thậm chí kém chất lượng.
Có thể nói, hầu hết các vụ cướp nêu trên có những tình tiết tương tự. Về phía tội phạm thì đều bịt khẩu trang và mang theo vũ khí nguy hiểm (rất khó xác định là thật hay giả khi xảy ra cướp). Nhìn chung nhân viên ngân hàng hành động theo nguyên tắc bảo đảm sự an toàn tính mạng bằng việc không đối đầu, chống trả lại tội phạm và không nhấn chuông báo động khi không bảo đảm an toàn.
Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "Tìm hiểu Các hành vi bị cấm trong hoạt động ngân hàng và Tội phạm ngân hàng). Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!