1. Tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng là gì?
Pháp luật hình sự nước ta quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, phải chịu hình phạt và được quy định trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Học viện Tư pháp, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2011).
Về thuật ngữ lĩnh vực ngân hàng, Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa lĩnh vực là phạm vi hoạt động hay xem xét nào đó, phân biệt với các phạm vi hoạt động hoặc xem xét khác (Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (Chủ biên), NXb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, năm 2008, trang 933). Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 định nghĩa “ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Như vậy có thể hiểu lĩnh vực ngân hàng gồm sự tồn tại của chính hệ thống ngân hàng (Ngân hàng nhà nước, các ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách xã hội) và các hoạt động kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, lĩnh vực ngân hàng là khái niệm tương đối có nội hàm chỉ sự tồn tại của các ngân hàng và hoạt động của các ngân hàng đó theo quy định của pháp luật.
Đến đây có thể hiểu tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng được pháp luật bảo vệ, quy định trong bộ luật hình sự hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngân hàng là công cụ quan trọng nhất giúp Chính phủ điều hành nền kinh tế, là kênh huy động vốn lớn nhất cho các dự án, là trung tâm thanh toán và thực thi chính sách tiền tệ, nơi tập trung khối lượng lớn tiền, ngoại tệ, các giấy tờ có giá và các tài sản quý vàng, bạc... Do đó, các loại tội phạm luôn xác định đây là mục tiêu để thực hiện các hoạt động phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản.
>> Xem thêm: Những đặc trưng cơ bản của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay
2. Nguyên nhân các vi phạm tội phạm trong hoạt động tín dụng, ngân hàng:
Quá trình thực hiện quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, Viện kiểm sát nhân dân thấy, để xảy ra tình trạng các cán bộ tín dungm, ngân hàng và đối tác làm ăn của các tổ chức tín dụng, ngân hàng có hành vi phạm tội, chiếm đoạt tiền vốn, tài sản của Nhà nước, đoanh nghiệpdo các nguyên nhân sau:
Về khách quan: do tác động và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm qua, đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực đồng tiền chung Châu Âu đã tác động và ảnh hưởng sâu sắc tới toàn diện nền kinh tế nước ta, trong đó tác động trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp, ggaay khó khăn về tổ chức và hoạt động, dẫn đến phá sản, giải thể, và cũng là nguyên nhân các tổ chức tín dụng, ngân hàng vi phạm các quy định của pháp luật, quy định, quy trình nội bộ về cho vay.
Về cơ chế, quy chế: Quy chế cho vay và các văn bản quy định về cho vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng ban hành từ lâu, có nhiều điểm không còn phù hợp với Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và thực tiễn hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng cần được ban hành mới để phù hợp.
Về Quản trị điều hành và kiểm soát, kiểm toán nội bộ: Công tác quản trị, điều hành còn yếu, hiệu quả thấp và hoạt động của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ chưa thực sự phát huy được vai trò tham mưu và đề xuất kịp thời những vấn đề càn quan tâm cho hội đồng quả trị, hội đồng thành viên, ban kiểm soát và ban điều hành các tổ chức tín dụng trong qua trình hoạch định chiến lược quản lý điều hành và chỉ đạo hoạt động chuyên môn nghiệp vụ.
Về quy trình, quy định nội bộ không chặt chẽ, còn nhiều lỗ hổng như quy định về chi hoa hồng môi giới tiền gửi tiết kiệm, lãi xuất thỏa thuận… đã vô hình dung tạo điều kiện cho cán bộ nhân viên ngân hàng, tổ chức tín dụng vi phạm.
Về quản lý rủi ro tín dụng : Thực tế cho thấy nếu cấp tín dụng quá hạn mức sẽ có nhiều nguy cơ gây rủi ro cho ngân hàng. Hầu hết các các tổ chức tín dụng trong nước đã cấp tín dụng vượt quá hạn mức đặt ra đối với một số khách hàng lớn và nhóm khách hàng có liên quan là các tập đoàn, tổng công ty lớn…
Về con người: do sự suy thoái và biến chất của một số cán bộ nhân viên tín dụng, ngân hàng trong qua trình thẩm định, xét duyệt cho vay, lợi dụng sơ hở của pháp luật, quy định, quy trình nội bộ của các tổ chức TD, NH về cho vay, cấu kết với khách hàng trục lợi riêng.
Lợi dụng sơ hở quản lý của hệ thông ngân hàng, lập giả thủ tục rút vốn, lấy cắp mật khẩu người có thẩm quyền ký duyệt trên máy tính, giả chữ ký của người có thẩm quyền chiếm đoạt tiền sử dụng cá nhân.
Thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra quy định của ngành, cố ý không thực hiện đúng quy trình cho vay để người khác chiếm đoạt tài sản, vốn của ngân hàng.
Lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong đon đốc thu hồi nợ vay chiếm đoạt tài sản cá nhân, vay và chiếm đoạt tiền của nhiều người, xuất các tài sản thê chấp trái quy định làm thất thoát thiệt hại rất lớn cho các ngân hàng và khách hàng…
Dự hợp đồng vay vốn với chữ ký, con dấu giả, tạo lòng tin chiếm đoạt tiền của nhiều khách hàng.
Vệc lợi dụng chức vụ, lạm dụng tín nhiệm của các cán bộ TD, NH từ cán bộ và lãnh đạo đã có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, lạm dụng sự tín nhiệm mà lừa đảo chiếm đoạt các số tiền lớn của cá nhân, tổ chức, sử dụng múc đích cá nhân.
Một số lãnh đạo do nể nang, thiếu trách nhiệm tạo điều kiện cho các đối tượng lợi dụng lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số lượng tiền rất lớn……
Với những người phạm tội không phải là cán bộ tín dụng, ngân hàng thì xuất phát từ động cơ tư lợi, họ lợi dụng mối quan hệ quen biết với cán bộ ngân hàng, tín dụng để làm hồ sơ giả, hồ sơ khống, hồ sơ thế chấp không đảm bảo khách quan đúng quy định rồi ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản lấy tiền ra sử dụng, đến hạn không có khả năng trả nợ cho ngân hàng.
3. Đặc chưng tội phạm tham nhũng
Phương thức, thủ đoạn phạm tội
Đối tượng là người làm việc trong ngân hàng
- Là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tạo dựng hồ sơ, giấy tờ giả, sổ tiết kiệm khống, vàng giả để thế chấp, sau đó chiếm đoạt tài sản. Giả mạo chữ ký của khách hàng gửi tiền để tham ô, không hạch toán vào tài khoản của khách hàng mà hạch toán vào tài khoản của cá nhân rồi thông qua tài khoản chuyển tiền đi ngân hàng khác để rút tiền. Sử dụng bút toán giả, thu tiền nợ vay không nhập quỹ, lập hồ sơ vay khống hoặc hồ sơ ghi tăng số tiền vay để rút tiền. Không thẩm định hoặc cố tình thẩm định sai tài sản thế chấp, thế chấp không đúng với thực tế để hưởng phần trăm trên tổng số tiền vay. Sử dụng các đối tượng bên ngoài, “sân sau”để thực hiện các hành vi tham nhũng, tự kê khai trên giấy gửi tiền và ghi vào sổ tiết kiệm không đúng với số tiền mà khách hàng kê khai…
- Lợi dụng uy tín của tổ chức ngân hàng để lừa đảo, thông qua các biện pháp nghiệp vụ như: huy động vốn, sửa chữa, tẩy xoá, nâng giá trị tiền lên nhiều lần trong các chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng phát hành, rồi đem thế chấp tại chính ngân hàng mình đang làm việc. Lập các chứng từ uỷ nhiệm chi, giấy nộp tiền, giấy nhận tiền, rồi giả mạo chữ ký của chủ tài khoản vào các tờ séc, giấy uỷ nhiệm chi để chuyển vòng vo thông qua các tài khoản tiền gửi, tiền vay của khách hàng để rút tiền.
- Thiếu tinh thần trách nhiệm, cả tin, quan liêu, năng lực yếu kém, nên gây hậu quả nghiêm trọng.
- Chiếm đoạt tài sản thông qua việc thực hiện chính sách, chế độ tài chính - tiền tệ, các gói kích cầu, hỗ trợ, giải cứu doanh nghiệp. Loại hành vi này rất tinh vi, khó phát hiện.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền trong khi thực hiện nhiệm vụ để đòi hối lộ.
- Sử dụng chuyên môn, nghiệp vụ mà mình đảm nhiệm để chiếm đoạt tài sản.
- Câu kết với khách hàng để chiếm đoạt tài sản của ngân hàng.
Đối tượng là người làm việc ngoài ngân hàng
- Thực hiện hành vi lừa đảo, tự tạo dựng hồ sơ dự án, giả mạo hợp đồng, lập hồ sơ vay vốn, thế chấp tài sản, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thuê kho bãi, hàng hoá, hoá đơn, chứng từ chiết khấu, dự án, cổ phiếu, trái phiếu, phương án kinh doanh, phương án trả nợ giả.
- Nâng giá trị tài sản thế chấp tăng lên nhiều lần, tài sản thế chấp là thật nhưng không đủ giấy tờ pháp lý hoặc đang có tranh chấp. Lập dự án không có thật, “dự án ma”, làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở, giấy tờ có giá hoặc dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở, giấy tờ có giá của người khác, thế chấp bằng hàng hoá hình thành từ vốn vay để thế chấp vay tiền ngân hàng rồi chiếm đoạt. Hành vi lừa đảo dưới dạng đầu tư tài chính qua mạng, huy động vốn theo kiểu kinh doanh đa cấp, giả danh các tập đoàn đầu tư tài chính toàn cầu. Ví dụ, đối tượng tự nhận là đại diện tổ chức tài chính quốc tế, có một khoản tín dụng lớn ở nước ngoài đang tìm đối tác cho vay với lãi suất hấp dẫn, thời gian vay dài, nếu muốn vay thì người vay phải ký quỹ từ 5% đến 10% vốn đối ứng, sau đó dùng chữ ký giả của người ký quỹ để rút tiền chiếm đoạt.
- Hành vi làm giả tài liệu, giấy tờ để chiếm đoạt tài sản của ngân hàng. Đó là, người phạm tội ký các hợp đồng tiền gửi giả mạo, hợp thức hoá đầu tư tài chính của tổ chức qua việc chuyển tiền vào tài khoản trung gian của chính tổ chức mình đại diện. Tạo dựng hồ sơ dự án, giả mạo hợp đồng, giả mạo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà… để thế chấp vay ngân hàng chiếm đoạt tài sản.
- Hành vi đột nhập mạng ngân hàng, trộm cắp mật khẩu, tạo lệnh chuyển tiền giả nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Hối lộ người có chức vụ, quyền hạn để họ tạo điều kiện cho hành vi chiếm đoạt tài sản. Vì hoạt động của hệ thống ngân hàng có rất nhiều những quy định chặt chẽ, nhất là trình tự về vay vốn nên hành vi và thủ đoạt của người phạm tội có tinh vi đến đâu, nhưng nếu không có sự liên kết, giúp sức của những người làm việc trong ngân hàng thì khó có thể thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản.
Rửa tiền
Là hành vi sử dụng tiền, tài sản có được do phạm tội mà có, “tiền bẩn” để mua bán bất động sản, chứng khoán… hợp thức hoá số tiền bẩn thành “tiền sạch”, sau đó thông qua hệ thống ngân hàng lại chuyển tiền về các tài khoản của mình, để tham gia vào các hoạt động giao dịch công khai. Đây là loại tội phạm có độ ẩn, rất tinh vi, do đó rất khó phát hiện. Các dòng tiền về cơ bản từ khi bắt đầu, đến khâu trung gian, cho đến khi kết thúc, hầu hết đều thông qua tổ chức tín dụng và thường được sử dụng ở ba giai đoạn trong chu trình rửa tiền, đó là: sắp đặt, phân tán và hoà nhập.
Dưới hình thức kinh doanh ngoại hối và giấy tờ có giá giả
Là hành vi kinh doanh ngoại tệ, lợi dụng sơ hở trong quản lý kinh doanh ngoại tệ, sử dụng mã giao dịch của thanh toán viên để sửa bút toán, giao dịch, sửa mã bảo mật (password) của thanh toán viên để sửa số liệu, tự ý thực hiện toàn bộ quá trình kinh doanh ngoại tệ liên ngân hàng…
Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả. Lừa đảo thông qua việc thanh toán hoặc đổi séc du lịch.
Sử dụng công nghệ cao
- Trộm cắp thông tin thẻ ngân hàng (dãy số thể hiện loại thẻ do ngân hàng phát hành - số thẻ), số PIN, thông tin về cá nhân (họ tên, địa chỉ, số điện thoại, E-mail), để rút tiền mà không cần đến thẻ của chủ sở hữu.
- Thành lập công ty “ma”, công ty “ảo” để trộm cắp dữ liệu, bằng hình thức này tiền được chuyển về tài khoản khác chứ không phải tài khoản của công ty.
- Sản xuất và sử dụng thẻ giả để rút tiền ở các máy ATM, trả tiền mua hàng, khách sạn, dịch vụ. Sử dụng thẻ ngân hàng trộm cắp được để mua hàng trực tuyến.
- Trộm cắp dữ liệu của các chủ tài khoản ngân hàng, sửa chữa thông tin, giả mạo chữ ký để chuyển tiền về các tài khoản ảo mở sẵn (được đăng ký bằng các loại giấy tờ giả). Sau khi tiền được chuyển đến tài khoản, nhanh chóng rút hết tiền và không bao giờ thực hiện thêm các giao dịch tiếp theo.
- Lợi dụng hệ thống thanh toán Swift của ngân hàng để thực hiện các giao dịch giả mạo.
- Truy cập bất hợp pháp vào Website, dùng phần mềm E-mail giả để lấy các thông tin cá nhân (thủ đoạn phishing), phát tán thư rác, tạo trang Web bán hàng giả.
Thâu tóm, lũng đoạn, chi phối ngân hàng theo kiểu “lợi ích nhóm”.
Lợi ích nhóm là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, nó bao gồm lợi ích nhóm đa số, lợi ích nhóm thiểu số, lợi ích nhóm tiêu cực, lợi ích nhóm tích cực. Lợi ích nhóm ở Việt Nam trong thời gian qua có đặc trưng liên quan đến những người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực tài chính, đầu tư, địa chính, bất động sản… Nó xuất hiện với tần suất dày đặc và theo hướng tiêu cực là chủ yếu, hoạt động của nó rất linh hoạt theo từng vụ việc và vây quanh một số cá nhân nhất định. Lợi dụng cơ chế hiện hành, tính thiếu công khai, minh bạch, các lợi ích nhóm thường tiếp xúc theo kiểu “quan hệ” cá nhân hoặc có thể thông qua trung gian, như con cái, người thân mà chất kết dính là lợi ích vật chất.
Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, lợi ích nhóm xuất hiện với ý đồ thâu tóm, lũng đoạn thị trường tài chính, nó cắm rễ và chi phối hệ thống - hoạt động của ngân hàng.
4. Nhận diện một số hành vi phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng
Lập khống chứng từ để rút tiền tiết kiệm gửi tại Ngân hàng của khách hàng nhằm chiếm đoạt
Vụ án Nguyễn Thị Thu Th phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”: Th được phân công nhiệm vụ là Giao dịch viên tại Ngân hàng TMCP V. Trong thời gian từ năm 2016 đến năm 2017, Th đã nhận tiền của 31 khách hàng đến làm thủ tục gửi tiền tiết kiệm, Th đã làm thủ tục mở 44 sổ/tài khoản tiết kiệm. Khi thực hiện các giao dịch này, lợi dụng kẽ hở trong việc quản lý tài khoản tiền gửi trên hệ thống Ngân hàng, Th đã cập nhật thông tin về khoản tiền đã gửi để in sổ/thẻ tiết kiệm giao cho khách hàng; đồng thời sử dụng chương trình in lại chứng từ, báo lỗi và đề nghị Kiểm soát viên của Ngân hàng phê duyệt in lại chứng từ; sau đó làm thủ tục rút chiếm đoạt tổng số tiền 21.109.046.000 đồng để chi tiêu cá nhân.
Cho khách hàng ký trước chứng từ khi làm thủ tục vay vốn; giả mạo chữ ký của khách hàng vay vốn nhằm chiếm đoạt tiền
Vụ án Nguyễn Ngọc Thanh T phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”: Trong thời gian từ tháng 10/2013 đến tháng 9/2014, T được Ngân hàng TMCP V phân công trực tiếp hướng dẫn làm thủ tục và quản lý hồ sơ vay vốn của 07 khách hàng vay vốn tại Ngân hàng. Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, T đã lợi dụng lòng tin và sự sơ hở của những cán bộ cùng cơ quan khi làm thủ tục vay vốn, T cho khách hàng ký trước một số giấy tờ như Lệnh chi, Giấy nhận nợ (chưa ghi nội dung)… và bằng các thủ đoạn gian dối khác, T đã dùng hồ sơ vay vốn của các khách hàng do T được giao quản lý còn hạn mức tín dụng và còn thời hạn duy trì hạn mức, lập khống các chứng từ giải ngân, lợi dụng các chứng từ ký khống của khách hàng có sẵn trong hồ sơ vay vốn, hoặc ký giả chữ ký của khách hàng vay vốn; nhờ một số khách hàng quen biết để chuyển số tiền giải ngân khống vào tài khoản của họ rồi nhờ họ rút tiền mặt, chuyển lại cho T.
Để không bị Ngân hàng và khách hàng phát hiện, T tự làm các thủ tục và tự nộp tiền vào để trả lãi cho các khoản tiền T giải ngân khống. Bằng các thủ đoạn trên, thông qua các Hợp đồng tín dụng của khách hàng, T đã chiếm đoạt được số tiền 5.650.000.000 đồng của Ngân hàng TMCP V.
Sử dụng thông tin của khách hàng để chiếm đoạt tiền của Ngân hàng
Vụ án Nguyễn Thị L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”: Lợi dụng vị trí được Ngân hàng VP phân công làm cán bộ tín dụng, làm hồ sơ tìm kiếm khách hàng vay vốn, L đã tiếp nhận hồ sơ thông tin, làm thủ tục mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng VP cho 20 khách hàng; sau đó những người này không sử dụng nữa, chuyển thẻ lại cho L để làm thủ tục đóng thẻ nhưng L đã không làm thủ tục đóng thẻ tín dụng theo quy định cho khách hàng, mà tự ý sử dụng thẻ tín dụng của 20 khách hàng này để rút tổng số 434.000.000 đồng chi tiêu cá nhân. Ngoài ra, L lấy thông tin của 05 khách hàng (trong tổng số 20 khách hàng này) để làm hợp đồng vay vốn dưới hình thức vay tín chấp (thực tế khách hàng không biết, không có nhu cầu vay tín chấp nhưng đều là người quen nên khi L nhờ đã tin tưởng ký vào hợp đồng và cung cấp bảng lương cho L). Sau khi hoàn thiện thủ tục, được Ngân hàng xác nhận thì L đã rút tiền chiếm đoạt được 360.000.000 đồng.
Sau khi được chuyển đổi vị trí công tác, L đã tiếp tục lợi dụng vị trí là quản lý, theo dõi số tiền dư nợ của khách hàng tại Ngân hàng VP, L đã tự làm thủ tục chuyển tiền từ tài khoản thanh toán của 03 khách hàng sang tài khoản cá nhân của mình mở tại Ngân hàng VP để rút ra chiếm đoạt 530.000.000 đồng.
Như vậy, với các vị trí công tác khác nhau tại Ngân hàng VP, L đều sử dụng các thông tin của khách hàng để làm giả các thủ tục nhằm rút tiền của Ngân hàng để chiếm đoạt chi tiêu cá nhân.
Lợi dụng kẽ hở trong việc quản lý, sử dụng xe chuyên dụng vận chuyển tiền từ trụ sở chính đến các chi nhánh của Ngân hàng nhằm chiếm đoạt
Vụ án Phạm Thị Tr cùng đồng phạm phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là một ví dụ. Tr là nhân viên kiểm ngân của Ngân hàng TMCP LV, Ngân hàng LV giao cho Tr nhiệm vụ thu gom tiền tại các chi nhánh theo tuyến đường cố định (gồm lái xe chuyên dụng, kiểm ngân và bảo vệ), công việc hàng ngày của Tr là đầu giờ làm việc buổi sáng vận chuyển tiền từ Trụ sở chính của Ngân hàng đến bàn giao cho các chi nhánh; cuối giờ làm việc buổi chiều thực hiện việc gom tiền từ các chi nhánh về trụ sở chính để bàn giao lại cho bộ phận Kho quỹ.
Do đang khó khăn về kinh tế, Tr đã lợi dụng việc quản lý xe chuyên dụng của Ngân hàng còn lỏng lẻo (có định vị GPS nhưng không được kiểm soát chặt chẽ; trên xe không có camera giám sát) nên Tr đã rủ lái xe sử dụng xe chuyên dụng đi ăn uống, sau đó cho chồng là cán bộ tại một cơ quan nhà nước lên xe chuyên dụng của Ngân hàng “đi nhờ” xuống chi nhánh của Ngân hàng có việc. Tại xe ô tô chuyên dụng, vợ chồng Tr đã lôi kéo lái xe giúp sức cho mình để mở cốp xe chuyên dụng cho vợ chồng Tr lấy tổng cộng 2.100.000.000 đồng tiền thu gom tại các chi nhánh của Ngân hàng, vợ chồng Tr chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên rồi cùng nhau bỏ trốn khỏi địa phương.
Thành lập Công ty “ma” để lập hồ sơ vay vốn, thanh toán trả tiền mua hàng hóa rồi chiếm đoạt tiền của Ngân hàng
Vụ án Dương Văn C là Phó phòng tín dụng của Ngân hàng TMCP CT. C đã thành lập Công ty cổ phần P, thuê Ph làm Giám đốc, N làm Kế toán; mọi hoạt động của Công ty cổ phần P đều do C chỉ đạo, điều hành. Công ty cổ phần P đã lập hồ sơ (hợp đồng mua Đạm Urê) và các văn bản, giấy tờ giả thế chấp cho Ngân hàng TMCP CT để vay 1,4 tỷ đồng. Do tin tưởng C nên sau khi tiếp nhận hồ sơ giấy tờ có liên quan do C chuyển cho, cán bộ thẩm định đã không kiểm tra; không tiến hành thẩm định, định giá theo quy định, nhưng vẫn ký hợp đồng tín dụng; tài sản bảo đảm cho số tiền vay là kho hàng đạm Urê của Công ty P. Sau khi đã hoàn thiện các thủ tục, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 1,4 tỷ bằng chuyển khoản thanh toán tiền hàng cho bà V (người quen của C, được C nhờ rút tiền mặt để đưa lại cho C sử dụng).
Đến hạn không thanh toán, Ngân hàng đã kiểm tra kho đạm của Công ty P để phát mại, nhằm thu hồi vốn mới phát hiện số lượng Đạm Urê mà Công ty P dùng để làm tài sản đảm bảo cho món vay số tiền 1,4 tỷ đồng là không có thật. Toàn bộ các hồ sơ, hợp đồng, hoá đơn, chứng từ về số hàng đạm Urê đều do Công ty P lập khống, nhằm lừa dối Ngân hàng để vay tiền (không có sổ sách, chứng từ tài liệu nào thể hiện việc thanh toán hay công nợ nào với bà V).
Toàn bộ số tiền gốc 1,4 tỷ đến nay không còn khả năng thu hồi, vì không có tài sản đảm bảo.
Làm giả giấy tờ, khai khống tài sản trên đất để nâng giá trị tài sản thế chấp nhằm vay tiền của Ngân hàng lớn hơn giá trị thực tế
Nguyễn Bá T có đăng ký hộ kinh doanh. T có 03 lô đất liền nhau (thửa số 214, 215, 216) có mặt tiền giáp đường nhựa, đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trong đó thửa đất số 216 có một mặt giáp đường bê tông liên thôn; trên thửa 214 có 01 gian nhà cấp 4, thửa 215 và 216 không có tài sản gì. Do cần tiền để kinh doanh, nên Nguyễn Bá T đã làm thủ tục thế chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất để vay tiền tại Ngân hàng.
Để vay được nhiều tiền hơn giá trị thực tế, T đã làm giả giấy phép xây dựng nhà 3 tầng trên đất, sửa chữa xác nhận của địa phương về hiện trạng thửa đất, sửa chữa sơ đồ thửa đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập 03 hồ sơ vay vốn tại 03 Ngân hàng khác nhau (trong mỗi hồ sơ đều có bản sao giấy phép xây dựng nhà ba tầng; xác nhận của địa phương về việc có nhà ba tầng trên từng thửa đất tương ứng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thể hiện các thửa đều có một mặt giáp đường bê tông, một mặt giáp đường nhựa...) để vay mỗi Ngân hàng 1.000.000.000 đồng.
Khi tiến hành thẩm định giá trị tài sản thế chấp, cán bộ thẩm định của các Ngân hàng trên trực tiếp đến hiện trạng thửa đất, đều được T dẫn đi thẩm định, xác định có nhà ba tầng trên thửa đất thế chấp, có treo biển Công ty của T, những người xung quanh được hỏi đều xác nhận tài sản này là của T... nên không phát hiện được trên thực tế thửa đất được thế chấp không có tài sản có giá trị (không có nhà ba tầng); không phát hiện được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị sửa chữa... Sau đó T chết, các Ngân hàng mới phát hiện được hộ kinh doanh của T đã dừng hoạt động, hồ sơ vay vốn đã bị T làm giả. Số tiền 3.000.000.000 đồng của 03 Ngân hàng đã giải ngân theo hợp đồng tín dụng ký với T không thể thu hồi được...
Tất cả những hành vi vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực Ngân hàng nêu trên đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ làm thiệt hại về tài sản mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động của hệ thống tài chính, Ngân hàng; làm gia tăng rủi ro và nguy cơ gây mất an toàn hệ thống Ngân hàng, đẩy Ngân hàng vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, đóng băng tín dụng và tác động trực tiếp đến an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia, làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội...
>> Xem thêm: Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân hàng và tội phạm ngân hàng?
5. Những sai phạm dẫn đến hành vi phạm tội trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng
Từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng thấy rằng hành vi phạm tội thường xuất phát từ những sai phạm sau:
Cố ý làm sai các quy định, quy trình, nhằm hợp pháp hóa thủ tục vay và cho vay vốn.
Nhân nhượng hoặc làm ngơ trước những sai sót của khách hàng.
Các nội dung can thiệp trái pháp luật của lãnh đạo.
Lợi dụng sự sơ hở của chính sách quản lý về ngân hàng và cho vay để tư lợi.
Chính sách với khách hàng Vip còn nhiều sơ hở.
Cho vay tín chấp không đủ điều kiện.
“Vay ké”, “vay lại” để sử dụng vào mục đích tư lợi.
Nhận hồ sơ thế chấp không phải là bản chính.
Thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra và nắm chắc tình trạng tài sản trước và sau khi nhận thế chấp.
Thẩm định hồ sơ thế chấp không đúng, không kỹ càng, đầy đủ.
Thẩm định hồ sơ không đúng quy trình do nể nang cấp trên cho vay trước hoàn thiện hồ sơ sau.
Quản lý kho hàng thế chấp, cầm cố không chặt chẽ.
Tiếp nhận tài sản không được phép nhận.
Không kiểm tra được việc sử dụng vốn vay và nắm bắt được thực trạng tài chính sau khi cho vay.
Xà xẻo, bớt xén, bán rẻ mạt, chi phí bừa bãi khi xử lý tài sản đảm bảo.