Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Thẩm quyền điều tra được quy định như thế nào?

Thẩm quyền Điều tra được quy định tại Điều 163 Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015(BLTTHS) như sau:

Các cơ quan điều tra Thẩm quyền điều tra
Cơ quan điều tra của Công an nhân dân Có thẩm quyền điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân

Có thẩm quyền điều tra tất cả các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự (các vụ án hình sự có thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự gồm:

- Các vụ án hình sự có bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân.

- Các vụ án hình sự mặc dù không có bị cáo thuộc trường hợp trên nhưng có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng hoặc quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ

Cơ quan  điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương Có thẩm quyền điều tra các tội phạm xâm  phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII (Các tội phạm về chức vụ) và Chương XXIV (Các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp) của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

2. Phân định thẩm quyền điều tra

Việc phân định thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan điều ra được quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 163 BLTTHS như sau

Thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ: Cụ thể là cơ quan điều tra sẽ có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình.

Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc nếu không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra sẽ thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

Thẩm quyền điều tra theo cấp:

Cơ quan điều tra  Phân định cấp thẩm quyền
Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực Có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực.
Cơ quan điều tra cấp tỉnh và Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu

- Cơ quan điều tra cấp tỉnh có thẩm quyền iều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp huyện xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra;

- Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự về tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra cấp khi vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng Có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại; các vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

3. Quyền hạn của một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Theo quy định tại Điều 164 BLTTHS, các cơ quan của Bộ đội biện phòng, cơ quan của Hải quan, Kiểm lâm, của lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có các quyền hạn, nhiệm vụ sau:

Đối với các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình, các cơ quan này có nhiệm vụ, quyền hạn:

- Nếu là tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

- Nếu là tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Đối với các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (nhưng không phải là Cơ quan Điều tra): nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì các cơ quan này có quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Thẩm quyền điều tra của các cơ quan nói trên được quy định tại Chương V Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015.

Khi được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, các cơ quan được giao nhiệm vụ phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 39 và Điều 40 của BLTTHS và thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng đối với hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS. Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan này.

4. Trường hợp nào sẽ chuyển vụ án để điều tra?

Chuyển vụ án để điều tra là trường hợp khi có căn cứ xác định là vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra thì Cơ quan điều tra đang điều tra vụ án thực hiện việc chuyển hồ sơ vụ án theo trình tự, thủ tục luật định tới cơ quan điều tra khác để tiến hành điều tra đúng thẩm quyền. 

Việc chuyển vụ án để điều tra được quy định tại Điều 29 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP như sau:

- Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày có cơ quan điều tra đang điều tra vụ án có căn cứ xác định vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra, Cơ quan đang điều tra vụ án phải thực hiện trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát cung cấp để có văn bản gửi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền, kèm theo các tài liệu xác định thẩm quyền điều tra để trao đổi về việc chuyển hồ sơ vụ án để điều tra theo thẩm quyền.

- Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trao đổi từ Cơ quan đang điều tra (nhưng không đúng thẩm quyền), Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra phải trao đổi với Viện kiểm sát cùng cấp để có văn bản trả lời lại.

- Việc chuyển vụ án được xử lý trong các trường hợp cụ thể như sau:

+) Nếu Cơ quan điều tra có thẩm quyền nhất trí tiếp nhận hồ sơ vụ án để điều tra thì Cơ quan điều tra đang điều tra có văn bản đề nghị chuyển vụ án gửi Viện kiểm sát cùng cấp để quyết định việc chuyển vụ án theo thẩm quyền.

+) Nếu Cơ quan điều tra có thẩm quyền không nhất trí tiếp nhận hồ sơ vụ án để điều tra thì phải có văn bản nêu rõ lý do tại sao không tiếp nhận.

Trường hợp lý do không có căn cứ thì Cơ quan điều tra đang điều tra vụ án sẽ có văn bản đề nghị chuyển vụ án gửi Viện kiểm sát cùng cấp để quyết định việc chuyển vụ án theo thẩm quyền, Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra phải tiếp nhận hồ sơ vụ án khi có quyết định chuyển vụ án của Viện kiểm sát.

Trường hợp lý do không nhất trí do tranh chấp về thẩm quyền điều tra, thì Cơ quan điều tra đang điều tra vụ án phối hợp cùng Viện kiểm sát cùng cấp báo cáo, đề nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết về thẩm quyền điều tra theo quy định.

5. Quy định về thời hạn điều tra vụ án hình sự

Thời hạn điều tra vụ án hình sự là thời gian tính từ khi khởi tố vụ án cho tới khi kết thúc điều tra. Thời hạn điều tra vụ án hình sự được quy định tại Điều 172 BLTTHS như sau:

- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng: Thời hạn điều tra không quá 02 tháng. Được gia hạn điều tra 01 lần không quá 02 tháng (nếu cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án) => Tổng thời gian điều tra có thể lên tới 04 tháng.

- Đối với tội phạm nghiêm trọng: Thời hạn điều tra không quá 03 tháng. Được gia hạn điều tra 02 lần. Lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ 02 không quá 02 tháng (nếu cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án) => Tổng thời gian điều tra có thể lên tới 08 tháng.

- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng: Thời hạn điều tra không quá 04 tháng. Được gia hạn điều tra 02 lần mỗi lần không quá 04 tháng (nếu cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án) => Tổng thời gian điều tra có thể lên tới 12 tháng.

- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Thời hạn điều tra không quá 04 tháng. Được gia hạn điều tra 03 lần mỗi lần không quá 04 tháng => Tổng thời gian điều tra có thể lên tới 16 tháng.

*** Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê