ảnh hưởng của cách mạng Trung Hoa năm 1911 và chính sách duy tân mà Minh Trị thiên hoàng đã áp dụng tại Nhật Bản, trong giới tri thức Việt Nam đã xuất hiện tư tưởng lập hiến. Có hai khuynh hướng chính trị chủ yếu trong thời gian này. Khuynh hướng thứ nhất, xây dựng nhà nước quân chủ lập hiến trong sự thừa nhận quyền bảo hộ của chính phủ Pháp. Khuynh hướng thứ hai, chủ trương giành độc lập, tự do cho dân tộc, sau đó xây dựng hiến pháp của nhà nước độc lập vì không có độc lập, tự do thì không thể có hiến pháp thực sự.

Đầu năm 1919, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã gửi tám điểm yêu sách của nhân dân An Nam cho Hội nghị Versailles của các nước đồng minh, trong đó đã thể hiện rõ tư tưởng lập hiến của Người. Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc đã dịch và diễn thành lời ca bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” để tuyên truyền trong đồng bào Việt kiều sống trên đất Pháp. Trong tám điểm yêu sách, đáng lưu ý là điểm thứ 7 - đó là yêu cầu lập hiến, lập pháp cho nhân dân Việt Nam:

“Bảy xỉn Hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần lỉnh pháp quyền”

Năm 1926, Nguyễn Ái Quốc lại cho công bố một bản yêu sách nữa mang đầu đề: “Lời hô hoán cùng Vạn quốc hội”. Bản yêu sách đòi trả quyền tự quyết cho nhân dân Việt Nam và đòi quyền độc lập hoàn toàn và tức khắc ngay cho dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách tuyên bố:

Nếu được độc lập ngay thì Việt Nam sẽ tình nguyện trả (dần từng năm) một phần nợ mà nước Pháp đã vay Mỹ và Anh trong hồi Ằu chiến, Việt Nam sẽ kí Hoà ước liên minh với nước Pháp và sẽ xếp đặt một nền hiến pháp theo lý tưởng dân quyền ”.

1. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1946

Sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” lịch sử ngày 02/9/1945 khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ; một trong những nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng hiến pháp, về vấn đề hiến pháp, Người viết: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiển pháp dân chủ”'7

Ngày 20/9/1945, Chính phủ lâm thời ban hành sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảo được công bố cho toàn dân thảo luận. Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho Bản dự thảo Hiến pháp chứa đựng mơ ước bao đời của họ về độc lập và tự do.

Ngày 02/3/1946, trên cơ sở Bản dự thảo Hiến pháp của Chính phủ, Quốc hội (khoá I, kì họp thứ nhất) đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người đại biểu của nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ban dự thảo có nhiệm vụ tổng kết các ý kiến đóng góp của nhân dân và xây dựng Bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hội xem xét và thông qua.

Ngày 28/10/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, kì họp thứ hai của Quốc hội khoá I đã khai mạc. Ngày 09/11/1946, sau hơn 10 ngày làm việc khẩn trương, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống.

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Do hoàn cảnh chiến tranh mà Hiến pháp năm 1946 không được chính thức công bố, việc tổ chức tổng tuyển cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện thực hiện. Tuy nhiên, Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Ban thường vụ Quốc hội luôn luôn dựa vào tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 1946 để điều hành mọi hoạt động của Nhà nước.

2. Nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1946

Hiến pháp năm 1946 bao gồm lời nói đầu, 7 chương và 70 điều.

Lời nói đầu xác định nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ. Lời nói đầu còn xác định ba nguyên tắc cơ bản của hiến pháp. Đó là những nguyên tắc sau đây:

- Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo;

- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ;

- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Toàn bộ 7 chương của Hiến pháp đều được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản trên. Chính ba nguyên tắc này đã thể hiện ba đặc điểm cơ bản của Hiến pháp năm 1946.

Xây dựng trên nguyên tắc đoàn kết toàn dân, Điều 1 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộnghoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dần Việt Nam, không phân biệt nòi giong, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của Nhà nước Việt Nam. Lần đầu tiên ở nước ta cũng như ở Đông Nam Á, một Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hình thức chính thể là hình thức cộng hoà. Đó là bước ngoặt lớn trong sự phát triển của tư tưởng dân chủ. Quy định trên đây cũng đề cao tính dân tộc của Nhà nước.

Tuân thủ nguyên tắc “đảm bảo các quyền tự do dân chủ”, Hiến pháp năm 1946 rất chú trọng đến chế định công dân. Điều đó thể hiện ở chỗ Hiến pháp có 7 chương thì Chương II dành cho chế định công dân. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân Việt Nam được đảm bảo các quyền tự do, dân chủ. Điều 10 Hiến pháp quy định: “Cémg dãn Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Phải nói rằng Hiến pháp năm 1946 là một bản hiến pháp dân chủ rộng rãi. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân được pháp luật ghi nhận (Điều 6 và Điều 7 Hiến pháp năm 1946). Và cũng lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, phụ nữ được ngang quyền với nam giới trong mọi phương diện. Với bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, công dân Việt Nam được hưởng quyền bầu cử, nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình bầu ra khi họ không tỏ ra xứng đáng với danh hiệu đó.

Dựa trên nguyên tắc thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân, hình thức nhà nước theo Hiến pháp năm 1946 có nhiều nét độc đáo đáng chú ý. Theo quy định của Hiến pháp, Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ. Mặt khác, Chủ tịch nước có quyền phủ quyết. Quyền đó thể hiện ở Điều 31 và Điều 54 Hiến pháp năm 1946. Điều 31 Hiến pháp năm 1946 quy định: “.Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bổ chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong hạn ẩy, Chủ tịch cỏ quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải ban bố”. Còn ở Điều 54 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Trong hạn 24 giờ sau khỉ Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại”. Như vậy, hình thức chính thể của Nhà nước ta theo Hiến pháp năm 1946 phần nào giống hình thức cộng hoà tổng thong. Nhưng Chủ tịch của nước ta theo Hiến pháp năm 1946 không phải do cử tri trực tiếp bầu ra mà do Nghị viện nhân dân bàu ra. Mặt khác, Chủ tịch nước chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Thủ tướng chọn Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Chính phủ chịu sự kiểm soát của Nghị viện. Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm thì phải từ chức. Những quy định trên cho thấy hình thức chính thể của Nhà nước ta theo Hiến pháp năm 1946 là hình thức kết hợp giữa cộng hoà tổng thống và cộng hoà nghị viện. Những nét độc đáo của nó còn thể hiện ở chỗ nó không hề giống hoàn toàn hình thức chính thể của những nước cùng có hình thức pha trộn như Pháp, Phần Lan, Bồ Đào Nha...

Qua những nét phân tích trên chúng ta thấy rằng Hiến pháp đầu tiên của nước ta - Hiến pháp năm 1946 là một bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kì một bản hiến pháp nào trên thế giới.

Về kĩ thuật lập pháp, Hiến pháp năm 1946 là một bản Hiến pháp cô đọng, khúc chiết, mạch lạc và dễ hiểu với tất cả mọi người. Nó là một bản Hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện.

===

Hiến pháp Việt Nam năm 1946 là đạo luật gốc, cơ bản được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá I, kì họp thứ 2 thông qua ngày 09.11.1946, gồm 7 chương, 70 điều.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, ra đời khi nhân dân Việt Nam đã đánh đổ được xiểng xích thực dân, làm chủ nước nhà, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong khi các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang ra sức phá hoại, rắp tâm thủ tiêu chính quyền nhân dân.

Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ xây dựng một Hiến pháp dân chủ, nhiệm vụ có tính lịch sử đó đã được chỉ đạo thực hiện bằng con đường dân chủ: tổ chức tổng tuyển cử tự do phổ thông đầu phiếu để cử tri trong cả nước không có bất kì một sự phân biệt nào bầu ra Quốc hội lập hiến làm ra Hiến pháp dân chủ hoà đại nghị hoặc cộn hai hình thức tổ chức này.

Để xây dựng dự thảo Hiến pháp trình Quốc hội lập hiến, cùng với công việc chuẩn bị tiến hành tổng tuyển cử, một Uỷ ban dự thảo Hiến pháp do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã được thành lập. “Mặc dù đất nước đang hết sức bộn bề với muôn vàn công việc khẩn cấp, Ban dự thảo Hiến pháp đã họp nhiều phiên dưới sự chủ toạ trực tiếp của Bác. Với trí tuệ uyên bác, với quan điểm lấy dân làm gốc, Bác đã đưa vào Hiến pháp đầu tiên của nước ta những điều luật ngang tâm với nền chính trị tiên tiến của thế giới lúc bấy giồ và nhiều điều còn có giá trị nóng hổi bởi tính thời sự cho đến hôm nay (Võ Nguyên Giáp).

Sau gần 2 tháng xây dựng, từ ngày thành lập Uỷ ban dự thảo (từ 20.9 đến 10.11.1945) một dự thảo Hiến pháp đã được công bố trên Báo cứu quốc để lấy ý kiến nhân dân đóng góp. Tại kì họp thứ nhất ngày 02.3.1946 của Quốc hội khoá Ï, Tiểu ban Hiến pháp của Quốc hội đã được thành lập để tiếp tục nghiên cứu bản dự thảo và các kiến nghị của nhân dân tham gia ý kiến. Kì họp thứ 2 của Quốc hội Khoá Ì khai mạc ngày 28.10.1946, đã quyết định các thành phần trong Tiểu ban, Hiến pháp để sửa đổi, bổ sung Dự thảo và đến ngày 09.11.1946 thì chính thức thông qua Hiến pháp - Đạo luật cơ bản đầu tiên của Việt Nam.

Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp ghỉ nhận thành quả đấu tranh gần 100 năm của dân tộc Việt Nam giành độc lập, tự do. Tiếp theo "Tuyên ngôn độc lập" ngày 02.9.1945, Hiến pháp năm 1946 trang trọng xác nhận: "Cuộc cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hoà”. Là đạo luật cơ bản của chính quyển nhân dân, trước tình

hình phức tạp trong và ngoài nước, trước các âm mưu thâm độc của thù trong giặc ngoài mong lật đổ chế độ cộng hoà dân chủ, thủ tiêu quyền độc lập, tước đoạt một lần nữa chủ quyền lãnh thổ quốc gia, Hiến pháp năm 1946 kiên nghị xác định: “Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia 2% trên nền tảng dân chủ.

Nhận thức trách nhiệm trước nhân dân cả nước xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc hội khẳng định: Hiến pháp Việt Nam phải ghi nhận những thành quả vẻ vang của cách mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc: đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; đảm bảo quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân (Lời nói đầu). Cùng với “Lời nói đầu" thể hiện những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, nội dung của Hiến pháp năm 1946 gồm có 7 chương, 70 điều quy định một cách cô đọng, bao quát những thiết chế cơ bản của một Nhà nước, một xã hội dân chủ dù chỉ mới có những bước đi đầu tiên trên con đường dân chủ.

Chương I - Chính thể: với ba điều (Điều 1, 2 và Điều 3) quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo” (Điều 1), “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam

Bắc không thể phân chia" (Điều 2), “Cờ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh" (Điều 3) là ba thể chế cơ bản, chủ yếu, quan trọng nhất và chính những lực lượng thù địch trong và ngoài nước, không chỉ âm mưu mà đang thực thi những hành động vừa trắng trợn, vừa nham hiểm nhất để nhằm xoá bỏ, thủ tiêu từng thể chế và cả ba thể chế.

Chương II - Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân: với 3 mục: Nghĩa vụ (mục A); Quyền lợi (mục Bì); Bầu cử, bãi miễn và phủ quyết (mục C), quy định các quyền lợi, nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến các nước, trong một bản Hiến pháp, chế định quyền và nghĩa vụ công dân lại được đặt cao như vậy, ngay tại Chương II chỉ sau Chương Ì về chính thể. Việc đặt nghĩa vụ công dân lên đầu chương này cũng rất đáng chú ý. Các quyền lợi công dân quy định tại 16 điều, được tách thành hai mục B và €. Mục B với tiêu đề: "quyền lợi công dân" với 11 điều, quy định rất bao quát, từ vị trí ngang quyền của tất cả công dân Việt Nam về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá (Điều 6); và đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc, tất nhiên không thể như nhau vì còn tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mỗi người (Điều 7), thể hiện một cách tiếp cận cực kì tỉnh tế của các nhà lập hiến. Về các quyền tự do dân chủ, Hiến pháp quy định công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài. Như vậy, hai loại quyền cơ bản đối với mỗi cá nhân: quyển bình đẳng, ngang quyền về mọi phương diện và các quyền tự do dân chủ của mỗi cá nhân đã được Hiến pháp quan tâm quy định đầy đủ, không hề có một phân biệt đối xử nào. Đồng thời, tính đến hoàn cảnh thực tế, địa vị xã hội của từng bộ phận, tầng lớp dân cư trong xã hội như là hệ quả của sự phát triển lịch sử trong điều kiện xã hội phong kiến, thực dân trước đây, Hiến pháp đã dành một số điều của mục B đưa ra những quy định có tính đặc thù thể hiện sự quan tâm, chăm lo đến từng bộ phận dân cư vốn chịu sự thiệt thòi và đối xử bất công trong các xã hội phong kiến, thực dân vì lí do về giới, về thành phần dân tộc, về những hạn chế về tuổi tác, về tật nguyền... Cụ thể, Điều 9 quy định “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện"; “Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đồ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung” (Điều 8); "những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ em được săn sóc về mặt giáo dưỡng" (Điều 14); “Học trò nghèo được Chính phủ giúp đỡ (Điều 15).

Hiến pháp còn dành một số điều quy định những chế định giữ vị trí trung tâm trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Điều 12 ghỉ: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm"; Điều 13: “Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm". Điều 11 cũng là điều được đặc biệt chú ý: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật" và cuối mục B này, trung thành với các lí tưởng dân chủ, tự do, các nhà lập hiến Việt Nam đã dành Điều 16 để quy định: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam". Mục C Chương ¡l đã được dành riêng để quy định về bầu cử, bãi miễn và phủ quyết tại 5 điều. Về mặt này, có thể nói Hiến pháp không tạo khung, vạch hành lang cho chế độ bầu cử mà là ghi nhận, đưa vào Hiến pháp thực tế cuộc bầu cử đã được tiến hành trước đó gần một năm. Nói một cách khác, đã diễn ra một tình huống rất đặc thù của cuộc vận động cách mạng dân tộc, dân chủ của Việt Nam, khi Hiến pháp đi sau thực tế tiến trình cách mạng đã diễn ra và Hiến pháp không còn phải làm chức năng dọn đường, vạch hành lang, tạo khung pháp luật cho diễn tiến của cuộc cách mạng mà là ghi nhận lại cái đã diễn ra, thể chế hoá các thành quả đã đạt được thành quy tắc có tính hiến định về chế độ bầu cử: phổ thông đầu phiếu; bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp và kín; tất cả công dân từ 18 tuổi trở lên không phân biệt trai gái, đều có quyền bầu cử; nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra; nhân dân có quyền phủ quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia.

Chương III- Nghị viện nhân dân: gồm 23 điều (từ Điều 22 đến Điều 42), là chương lớn nhất của Hiến pháp. Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (Điều 22); giải quyết mọi vấn để chung cho toàn quốc; đặt ra pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ kí với nước ngoài (Điều 24), Nghị viện quyết nghị theo quá nửa số nghị viên có mặt, nhưng muốn tuyên chiến thì phải có hai phần ba số nghị viên có mặt bỏ phiếu thuận (Điều 29), Các luật đã được Nghị viện biểu quyết phải được Chủ tịch nước ban bố chậm nhất 10 ngày sau khi nhận được thông tin. Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại nhưng nếu luật vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì Chủ tịch nước bắt buộc phải ban bố (Điều 31). Nghị viện lập Ban thường vụ gồm 1 nghị trưởng, 2 phó nghị trưởng, 12 uỷ viên chính thức, 3 uỷ viên dự khuyết và đều được bầu bởi Nghị viện (Điều 27). Khi Nghị viện không họp, Ban thường vụ có quyền biểu quyết những dự án sắc luật do Chính phủ trình và phải đem trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất để Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ; triệu tập Nghị viện nhân dân; kiểm soát và phê bình Chính phủ (Điều 36). Khi Nghị viện không họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ có quyển quyết định tuyên chiến hay đình chiến (Điều 38).

Chương IV - Chính phủ: có 14 điều, từ Điều 43 đến Điều 56. Điều 43 xác định Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc. Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng (Điều 44). Chủ tịch nước được chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba trong tổng sế nghị viên bỏ phiếu thuận; nếu không đủ số phiếu ấy thì lần bổ phiếu thứ nhì sẽ theo đa số tương đố: (Điều 45). Chủ tịch nước được Hiến pháp quy định có những quyền hạn rất rộng rãi: thay mặt cho nước; giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái...; kí sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên nội các...; chủ tọa Hội đồng Chính phủ; ban bố các đạo luật đã được Nghị viện nhân dân quyết nghị; thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự, đặc xá; kí hiệp ước với các nước; phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoật giao của các nước; trong trường hợp Nghị viện nhân dân không họp được, cùng Ban thường vụ quyết định tuyên chiến hay đình chiến.

Những quyền hạn mà Hiến pháp giao cho Chủ tịch nước là hết sức rộng rãi, về đại thể có nhiều nét tương đồng với quyền hạn của Tổng thống các nước theo chế độ tổng thống. Điều đó không ngẫu nhiên. Một trong ba nguyên tắc lớn được đề ra ngay trong Lời nói đầu làm phương châm chỉ đạo thiết kế các thể chế của Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam là: “thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Trong điều kiện của những năm đầu cách mạng mới thành công, kẻ thù tàn bạo trong và ngoài nước đang ra sức phá hoại, hòng lật đổ chính quyền nhân dân, khi bản thân chính quyền non trẻ đang trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc” và khi công cuộc “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tẳng dân chủ" đã trở thành một nhiệm vụ trực tiếp và vô cùng bức thiết thì việc thiết kế một chức danh Chủ tịch nước, nguyên thủ quốc gia với sự tập trung nhiều quyền lực là vô cùng cần thiết. Trong lúc đó, tại Điều 50 Hiến pháp lại xác định: “Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc".

Đồng thời, Hiến pháp còn quy định: “Thủ tướng Chính phủ phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của nội các” (Điều 54), còn các Bộ trưởng như quy định tại Điều 53, tuỳ theo quyền hạn của các bộ, phải tiếp kí vào các sắc lệnh mà Chủ tịch nước đã kí và Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Nghị viện về các sắc lệnh đã tiếp ký. Trong cả hai trường hợp: về con đường chính trị của Nội các, về các sắc lệnh mà Chủ tịch nước đã ký, Hiến pháp đều không quy định Chủ tịch nước phải chịu bất kì một trách nhiệm nào.

Bằng những quy định đó, Hiến pháp dành cho Chủ tịch nước, trong khi thực hiện những quyền hạn rộng lớn trong lãnh đạo đất nước, quyền chủ động trong việc đưa ra những quyết định hệ trọng, có khi sống còn của đất nước. Đó thực sự là một thiết chế đặc biệt, vừa phản ánh tính quyết liệt, khẩn trương của tình hình đất nước, vừa thể hiện sự tin cậy, sự uỷ thác rất cao mà các đại biểu Quốc hội thay mặt nhân dân cả nước dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đối với Nội các và các Bộ trưởng, vấn đề tín nhiệm đã được đặt ra: Bộ trưởng nào không được tín nhiệm thì phải từ chức (Điểu 54); Nghị viện có thể biểu quyết về vấn đề tín nhiệm, khi Thủ tướng, Ban thưởng vụ hoặc một phần tổng số nghị viên nêu vấn đề đó ra.

Chương V - Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính: Cả nước về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh; tỉnh chia thành thành huyện; huyện chia thành xã và ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố hay xã cử ra Uỷ ban hành chính. Ở bộ và huyện chỉ có Uỷ ban hành chính do Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp bầu ra.

Chương VI - Cơ quan tư pháp gồm: Toà án tối cao; các Toà án phúc thẩm; các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp (Điều 63). Thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm. Xử việc hình có Phụ thẩm nhân dân để: hoặc tham gia ý kiến, nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với Thẩm phán nếu là việc đại hình (Điều 65). Dân tộc thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước toà (Điều 66). Bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư (Điều 67). Cấm tra tấn, đánh đập, ngược đãi bị cáo và tội nhân (Điều 68). Khi xét xử, Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp.

Chương VII - Sửa đối Hiến pháp: khi có hai phần ba tổng số Nghị viên yêu cầu. Những điều sửa đổi được Nghị viện ưng chuẩn phải đưa ra toàn dân phúc quyết. Cùng với việc thông qua Hiến pháp Sãš năm 1946, Quốc hội ra Nghị quyết giao Ban thường trực Quốc hội cùng với Chính phủ ban bố và thi hành Hiến pháp khi có điều kiện. Trong thời kì chưa thi hành được thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã định trong Hiến pháp để ban hành các sắc luật. Ngày 19.12.1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ nên Hiến pháp năm 1946 chính thức chưa được công bố thi hành, nhưng tinh thần, lời văn của các thể chế hiến định có tác dụng to lớn đối với công tác tổ chức, lãnh đạo, điều hành công việc của Chính phủ. Hiến pháp năm 1946 cũng có tác dụng to lớn, khi đến được với nhân dân các nước, giúp cho họ hiểu biết hơn nhân dân ta và chế độ mới mà dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ

Chí Minh đang xây dựng.

Tìm hiểu về Hiến pháp Việt Nam năm 1959

Hiến pháp Việt Nam năm 1959 là Đạo luật gốc, cơ bản được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Khoá I, kì họp thứ 11 thông qua ngày 31.12.1959 và Chủ tịch Hồ Chí Minh kí lệnh công bố ngày 01.01.1960, gồm 10 chương và 112 điều. Hiếp pháp năm 1959 là bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam, thay thế Hiến pháp năm 1946, ra đời khi đất nước đang tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Tại kì họp thứ 6, Quốc hội Khoá l (cuối năm 1956 đầu năm 1957) đã có quyết định sửa đổi Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Kế thừa và phát triển các chế định thể hiện bản chất, chức năng, sức mạnh, các nhiệm vụ lịch sử của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua sự thử thách, kiểm nghiệm của thực tế đấu tranh của nhân dân, Hiến pháp năm 1959, một mặt ghi lại theo tinh thần và lời văn của nhiều chế định của Hiến pháp năm 1946, mặt khác, đã mở rộng phạm vi quy định, có thêm những chương mới chưa được quy định ở Hiến pháp năm 1946. Đó là Chương II, "Chế độ kinh tế và xã hội' là một chương lớn với 13 điều, hoặc chế định “Chủ tịch nước” được tách ra khỏi chế định Chính phủ và quy định thành một chương riêng, Chế định: “Quốc kì, Quốc huy và Thủ đô" ở Hiến pháp năm 1946 đặt thành một điều ở Chương l “Chính thể" đã được tách thành một chương, riêng “Quốc ki, Quốc huy, Thủ đô” với 3 điều đặt ở cuối Hiến pháp, tương tự như ở Hiến pháp nhiều nước trên thế giới. “Lời nói đầu" cũng như Điều 1 đều khẳng định: "Nước Việt Nam là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Maư'" (Lời nói đầu) hoặc "Nước Việt Nam là một khối Bắc Nam thống nhất không thể chia cắt' (Điều 1). Nội dung chính của “Lời nói đầu" có tính chất của một bản tổng kết lịch sử đấu tranh trong suốt gần 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ vì độc lập, tự do, nhất là từ khi có sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời đưa ra một tuyên ngôn, phương hướng cho cuộc đấu tranh trong thời kì tới: "Cách mạng Việt Nam chuyển sang một hình thể mới. Nhân dân ta cần ra sức củng cố miền Bắc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh, hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước”, và chỉ rõ “Hiến pháp mới là một Hiến pháp thực sự dân chủ. Hiến pháp mới có sức mạnh động viên nhân dân cả nước phấn khỏi tiến lên giành những thắng lợi mới".

Chương I, “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”, xác định tính nhân dân của Nhà nước: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà... là một nước dân chủ nhân dân; Điều 3 xác định: "Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc", đồng thời, thiết kế một quy định mang tính thể chế chính quyền tự trị đối với các dân tộc thiểu số: "Những địa phương có dân tộc thiểu số sống tập trung thì có thể thành lập khu vực tự trị. Khu tự trị là khu vực không thể tách rời được của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”.

Điều 4 ghi lại quy định của Điều 1 Hiến pháp năm 1946 với sự điều chỉnh “quyền bính" thành “quyền lực" và cả cách thể hiện: từ “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” thành: “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân". Nhân dân là khái niệm có nội dung giai cấp. Cũng vì vậy, cách thể hiện: “Toàn thể nhân dân không phân biệt...” có phạm vi rộng hơn khái niệm nhân dân. Đây cũng là một trong những khuynh hướng xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Hiến pháp năm 1959. Điều 5 đề cập đến chế độ tuyển cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Điều 6 (mới) quy định trách nhiệm của tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân; Điều 7 quy định những hành vi bị nghiêm cấm và bị Nhà nước trừng trị; Điều 8 về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân.

Chương II - Chế độ kinh tế và xã hội quy định đường lối tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội; Điều 10 xác định: “Nhà nước lãnh đạo kinh tế theo một kế hoạch thống nhất, Điều 11 nói đến các thành phần sở hữu trong

trong thời kì quá độ và Điều 12 - vai trò lãnh đạo của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân; Điều 13 - về vị trí của kinh tế hợp tác xã và chính sách của Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ phát triển; Điều 14 - về chính sách của Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của nông dân và khuyến khích họ tổ chức các hợp tác xã... cũng như chính sách kinh tế đối với người làm nghề thử công, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã (Điều 18) bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sảg xuất và của cái khác của nhà tư sản dân tộc...

Chương II - Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân gồm 23 điều là chương lớn nhất của Hiến pháp, thể hiện một bước phát triển dài của chế định quyền công dân trong xã hội ta những năm 60, 70 trên cơ sở kế thừa các quy định có tính mở đầu của Hiến pháp năm 1946, chủ yếu theo hướng vừa mở rộng số lượng các quyền mà Hiến pháp năm 1946, trong điều kiện của những năm đầu chính quyền nhân dân non trẻ, chưa quy định như quyền làm việc (Điều 30), quyền nghỉ ngơi (Điều 31), quyền tự do nghiên cứu khoa học... Đáng ghi nhận là Hiến pháp quy định quyền khiếu nại và tố cáo của công dân về những hành vi phạm pháp của nhân viên trong cơ quan nhà nước và quyền được bồi thường về những thiệt hại vì hành vi phạm pháp gây ra

(Điều 29). Đồng thời, Hiến pháp cụ thể hoá các quyền đã được Hiến pháp năm 1946 quy định nhưng đang dừng lại ở dạng tuyên ngôn, nguyên tắc như Điều 32 về quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động được bảo đảm bằng việc Nhà nước mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để người lao động được hưởng quyền đó, hoặc về quyền học tập: công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển dần các trường học và cơ quan văn hoá, kĩ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và nông thôn, để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó (Điều 33). Đối với các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng, ngang quyền của Hiến pháp năm 1946 cũng đều được ghi nhận lại và phát triển theo hướng bổ sung các biện pháp bảo đảm thực hiện, như Điều 25, 26, 27, 28: công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình, tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nhà ở, về thư tín... và Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.

Các chương từ Chương IV đến Chương VII| quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, chiếm một nửa số chương (5/10) và gần 60% số điều (68/112), so với các quy định của Hiến pháp năm 1946 có những điểu chỉnh lớn theo hướng dân chủ hoá, để cao, phát huy chế độ đại diện, phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để tích cực phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người dân Việt Nam thực sự tham gia quản lÍ công việc nhà nước. Điều 43, 44 xác định: Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp. Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hôi có quyền ra pháp lệnh, giải thích pháp luật, quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân; sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị định, nghị quyết, chỉ thị của Hội đồng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh; quyết định việc tổng động viên hoặc động viên cục bộ; quyết định việc giới nghiêm toàn quốc hoặc ở từng địa phương; quyết định việc phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước kí với nước ngoài. Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp nước nhà bị xâm lược cũng như quyết định việc bổ nhiệm hoặc bãi miễn Phó Thủ tướng và những thành viên khác của Hội đồng Chính phủ.

Như vậy, Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền rộng lớn, một số quyền mà ở Hiến pháp năm 1946 giao cho Chủ tịch nước hoặc Chính phủ thì ở Hiến pháp này đã trao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Trong điều kiện Quốc hội không hoạt động thường xuyên, mỗi năm chỉ họp hai kì ngắn ngày, các thẩm quyền trên đây đưa lại cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội, phản ánh khuynh hướng có tính phổ biến lúc bấy giờ ở các nước xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi tính chất của cơ quan thường vụ của Quốc hội không còn là cơ quan thường trực đơn thuần của cơ quan lập pháp mà đồng thời thực hiện cả một phần chức năng của nguyên thủ quốc gia hoặc cơ quan hành pháp cao nhất.

Chương V - Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra, không bắt buộc là từ các vị đại biểu Quốc hội như Hiến pháp năm 1946 mà công dân Việt Nam từ ba mươi lăm tuổi trở lên thì có quyền ứng cử Chủ tịch nước.

Từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 4959, các quy định của Chương "Chủ fịch nước” thể hiện bước chuyển hướng rõ nét nhất sang mô hình quá độ trong việc tổ chức thực thi quyền lực nhà nước cấp cao theo mô hình tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa phổ biến đương thời. Chủ tịch nước không thực hiện quyền lập quy ra sắc lệnh mà căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà công bố pháp luật, pháp lệnh; bổ nhiệm, bãi miễn Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ, công bố lệnh đại xá và lệnh đặc xá, tặng thưởng huân chương và danh hiệu vinh dự của Nhà nước; tuyên bố tình trạng chiến tranh; công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố lệnh giới nghiêm.

Trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại cũng vậy, cùng với trách nhiệm tiếp nhận đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài... Chủ tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội mà phê chuẩn hiệp ước kí với nước ngoài, cử và triệu hồi đại diện toàn quyền ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ở nước ngoài (Điều 64).

Đồng thời, Hiến pháp vẫn tiếp tục trao cho Chủ tịch nước những quyền năng có tính thực quyền: thống lĩnh các lực lượng vũ trang toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng (Điều 65); khi xét thấy cần thiết có quyền tham dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Chính phủ (Điều 66); khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và chủ toạ hội nghị chính trị đặc biệt.

Chương VI, Hội đồng Chính phủ với tính cách là một cơ quan hợp nghị do Thủ tướng đứng đầu, chủ toạ Hội đồng Chính phủ và lãnh đạo công tác của Hội đồng Chính phủ (Điều 75). Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.

Chương VII về Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính quy định “Các đơn vị hành chính nói trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính". Từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1959, đây là lần điều chỉnh lớn tổ chức chính quyền

địa phương, mở ra thời kì tổ chức chính quyền địa phương 3 cấp hành chính, ở địa bàn đô thị cũng như nông thôn và được tiếp tục duy trì qua hai lần sửa đổi cơ bản Hiến pháp năm 1980 và năm 1992.

Hội đồng nhân dân các cấp được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương (Điều 80) với các nhiệm kì khác nhau: cấp tỉnh - 3 năm; các cấp còn lại - 2 năm. Uỷ ban hành chính các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính ba cấp đều có quyền lập quy. Hội đồng nhân dân bầu và bãi miễn Chánh án Toà án nhân dân cấp mình (Điều 84).

Chương VIII quy định về Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Bằng các quy định của chương này, lần đầu tiên, ở tầm hiến định, các Toà | án nhân dân với tính cách là cơ quan xét xử và các Viện kiểm sát nhân dân với tính cách là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nước Viật Nam dân chủ cộng hoà chính thức ra đời đầy đủ ở cả 3 cấp: trung ương, tỉnh, huyện. Đây chính là một bước phát triển lớn của các cơ quan tư pháp nước ta. Trước đó, do tình hình chiến tranh, các Toà án chỉ được thành lập ở các cấp địa phương.

Các Toà án nhân dân thực hiện chế độ thẩm phán bầu (Điều 98) và việc xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia và ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử (Điều 99).

Các Viện kiểm sát nhân dân với tính cách là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật, để bảo đảm pháp chế thống nhất trong cả nước, được thành lập thành hệ thống thống nhất: Viện kiểm sát nhân dân các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 107).

Chương X về sửa đổi Hiến pháp: chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp với hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Vấn đề đưa ra nhân dân phủ quyết như Hiến pháp năm 1946 quy định, không còn đặt ra.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)