1. Căn cứ pháp lý

Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

“Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này."

2. Nội dung của nguyên tắc

Nội dung điều 16 trên xác định hai định hướng của pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo vệ quyền là bảo đảm quyền của người bị buộc tội và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Cơ sở hiến định của quy định này là khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013, bảo đảm phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 với nội dung chi tiết về việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội.

Theo đó, người bị buộc tội có quyền được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đó có thể hiểu được về bản chất và lý do bị buộc tội. Họ phải được bảo đảm đủ thời gian phù hợp và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn; được có mặt trong khi xét xử; được tự bào chữa hoặc nhờ sự trợ giúp về mặt pháp lý do mình lựa chọn; nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi phải bố trí cho người đó một sự trợ giúp pháp lý miễn phí nếu người đó không có đủ điều kiện trả tiền. Bị can, bị cáo có quyền được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên tòa và thẩm vấn tại Tòa với những điều kiện giống như đối với những người làm chứng buộc tội mình (Điều 3 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966).

Những nội dung trên đây của Công ước đã được chuyển hóa vào các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về quyền bào chữa của người bị buộc tội và về địa vị pháp lý tố tụng của một loạt các chủ thể bị buộc tội như người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt theo quy định truy nã, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Đáng chú ý là, phần lớn nội dung của Chương VI “Chứng minh và chứng cứ" cũng xuất phát từ đòi hỏi của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã giành chọn một chương riêng về bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự nhằm cụ thể hóa những yêu cầu quan trọng của nguyên tắc được xác định tại Điều 16 này.

3. Ai có thể bào chữa?

Luật sư là người bào chữa chuyên nghiệp, hoạt động trong đoàn luật sư. Luật sư chỉ tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội.

Bào chữa viên nhân dân là người được Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho thành viên của tổ chức mình trong những trường hợp theo quy định của pháp luật. Hoạt động bào chữa của Bào chữa viên nhân dân không phải chuyên nghiệp mà chỉ mang tính chất nghiệp dư. Cho đến nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng chưa có một văn bản nào quy định về hoạt động bào chữa của Bào chữa viên nhân dân nên vị trí, vai trò của họ cũng mờ nhạt. Việc bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chủ yếu là Luật sư và người đại diện hợp pháp của những người đó. Thuật ngữ Bào chữa viên nhân dân xuất hiện lần đầu trong BLTTHS 1988 và được tiếp tục được nhắc đến trong BLTTHS 2015 nhưng không quy định cụ thể thế nào là “Bào chữa viên nhân dân”.Khoản 3 điều 72 BLTTHS năm 2015 thì quy định rõ hơn: Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, làm việc tại trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Được chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của giám đốc sở tư pháp. Tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa.

4. Quyền bào chữa của người bị buộc tội

Quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người bào chữa. Hai quyền này có thể song song tồn tại mà không loại trừ lẫn nhau. Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa đồng thời có quyền nhờ người bào chữa. Trong trường hợp nhờ người bào chữa thì họ vẫn có quyền tự bào chữa. Người bị buộc tội phải được giao nhận quyết định khởi tố, bản kết luận điều tra sau khi kết thúc điều tra, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử... để chuẩn bị bào chữa. Trong quá trình bào chữa họ có thể sử dụng mọi biện pháp hợp pháp để chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ tội.

Bào chữa là tất cả các hoạt động của người bị buộc tội và người bào chữa từ khi bị buộc tội đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị. Thông qua hành vi cụ thể, họ sử dụng các quyền luật định để làm sáng tỏ những tình tiết chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như những tình tiết khác có lợi cho người bị buộc tội. Đó có thể là hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng; hoặc đưa ra chứng cứ nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của người bị buộc tội; hoặc các hành vi tố tụng nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của người bị buộc tội, kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm hình sự trong vụ án.

Quyền bào chữa xuất hiện từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, có quyết định tạm giữ hoặc từ khi khởi tố bị can. Quyền bào chữa kết thúc khi vụ án được xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi những căn cứ của việc buộc tội không còn, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án thì chức năng bào chữa sẽ kết thúc sớm hơn.

Luật tố tụng hình sự không chỉ quy định người bị buộc tội có quyền bào chữa mà còn quy định những bảo đảm cần thiết để quyền bào chữa được thực hiện. Trong những trường hợp luật định, nếu người buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ.

5. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Không chỉ quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội Điều 16 BLTTHS 2015 còn quy định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Điều này thể hiện nhà nước không chỉ coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

Bị hại, đương sự có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng có quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa; bảo đảm cho bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án đồng ý. Người đó có thể là luật sư, trợ giúp viên pháp lý,… người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước hết phải là người am hiểu pháp luật. Bởi lẽ chỉ khi hiểu rõ về quy định pháp luật thì họ mới có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự một cách tốt và thành công nhất. Ngoải ra, người đó còn phải đáp ứng đủ các điều kiện tham gia tố tụng hình sự theo quy định pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự được quy định cụ thể tại Điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 chi tiết như sau:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể là: Luật sư; Người đại diện; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền: Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Yêu cầu giám định, định giá tài sản; Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của người mà mình bảo vệ; đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của bị hại và đương sự sau khi kết thúc điều tra; Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có nghĩa vụ: Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án; Giúp bị hại, đương sự về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)