1. Khái quát về tác phẩm Bàn về tự do
Bàn về tự do (nguyên gốc tiếng Anh: On Liberty) là một trong những tác phẩm triết học nổi tiếng nhất của John Stuart Mill, một nhà triết học thực chứng người Anh. Được xuất bản năm 1859, tác phẩm áp dụng hệ thống đạo đức của chủ nghĩa vị lợi của Mill cho xã hội và nhà nước. Mill đề xuất các tiêu chuẩn (standards) cho mối quan hệ giữa thẩm quyền và tự do (authority and liberty). Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của tính cá nhân (individuality), mà ông coi là điều kiện tiên quyết cho những khoái lạc cao hơn - điều tốt đẹp cao nhất (summum bonum) của chủ nghĩa vị lợi. Hơn thế, Mill nhấn mạnh rằng các lý tưởng dân chủ có thể dẫn đến sự độc tài của đám đông (tyranny of the majority). Các tiêu chuẩn được đề xuất bởi cuốn sách bao gồm ba tự do căn bản của cá nhân, ba bác bỏ hợp lệ với sự can thiệp của chính quyền, và hai phương châm (maxim) về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
Bàn về tự do đã gây tiếng vang rất lớn và nhận được nhiều sự ủng hộ. Một số người theo chủ nghĩa tự do đã chỉ trích cuốn sách do sự thiếu tiếp nối rõ ràng với Chủ nghĩa vị lợi và sự quá chung chung trong xác định phạm vi trong đó các cá nhân có thể chống lại những xâm phạm của chính phủ vào tự do hành động cá nhân của mình. Những ý tưởng được trình bày trong Bàn về tự do vẫn được coi là nền tảng quan trọng cho tư duy chính trị. Tác phẩm vẫn được in cho tới ngày nay.
Cuộc hôn nhân của Mill với Harriet Taylor Mill có ảnh hưởng rất lớn tới các khái niệm trong Bàn về tự do. Cuốn sách được xuất bản một thời gian ngắn sau khi bà qua đời.
2. Cuốn sách nền tảng của tư duy lý luận và tư tưởng phương Tây
Được John Stuart Mill viết năm 1859, Bàn về tự do đã đề cập đến một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm, đó là sự tự do cá nhân hay quyền của các cá nhân trong mối quan hệ của họ với cộng đồng và xã hội. Tuy tác giả không phải là triết gia đầu tiên trong lịch sử nêu lên ý tưởng về quyền tự do của con người nhưng ông là người đưa ra định nghĩa thuyết phục nhất cho quyền này.
Do vậy, Bàn về tự do mau chóng trở nên nổi tiếng ngay sau lần xuất bản đầu tiên. Và, trong suốt gần 150 năm qua, nó đã là "bài nhập môn", là cuốn sách gối đầu giường cho bất kỳ một người nào có quan tâm tới tư duy lý luận và tư tưởng phương Tây.
3. Tóm tắt nội dung của tác phẩm Bàn về tự do
Qua cuốn sách này, J.S. Mill đã đưa ra quan điểm về tự do dân sự (hay tự do xã hội) là ranh giới giữa sự kiểm soát xã hội và tự do cá nhân: Chỉ có phần cư xử của một ai đó liên quan đến những người khác mới phải vâng theo xã hội, còn anh ta hoàn toàn tự do trong việc tác động lên riêng cá nhân mình.
Theo Mill, một nhánh quan trọng của tự do dân sự là tự do tư tưởng và tự do thảo luận. ông đưa ra tiên đề rằng không ai hoàn toàn đúng và mọi ý kiến, tư tưởng đều chỉ đúng một phần. Do đó, những ý kiến và tư tưởng này chỉ có thông qua con đường thảo luận tự do mới có thể đi tới hoàn thiện. Và sự phản bác phải được chào đón, thậm chí còn nồng nhiệt hơn những luận điểm tán thành. Tác giả viết: "Bất cứ ý kiến nào, nếu chứa đựng chút ít chân lý mà ý kiến chúng bỏ qua, cũng đều đáng quý, dù có bị pha trộn với bao nhiêu sai sót lầm lẫn đi chăng nữa" và "Trong tình trạng không hoàn hảo của trí tuệ con người thì sự đa dạng ý kiến là sự phục vụ lợi ích của chân lý".
Vì lẽ những con người khác nhau cần những điều kiện khác nhau cho sự phát triển tinh thần của họ, nên con người cần sự tự do cá nhân để phát huy hết tiềm năng của mình. Sự tự do cá nhân được giới hạn trong phạm vi những việc chỉ tác động lên quyền lợi của chính cá nhân anh ta, còn những hành vi vượt ngoài ranh giới ấy phải bị chính quyền quản lý bằng pháp luật, xã hội gây sức ép bằng công luận[3].
Quyền lực của xã hội đối với sự tự do cá nhân chỉ dừng ở mức hướng dẫn, thuyết phục và tỏ ý không tán thành, chứ tuyệt nhiên không được tác động trực tiếp tới cá nhân con người.
Vậy làm cách nào để phân biệt hành vi nào hoàn toàn nằm trong khu vực lợi ích cá nhân, hành vi nào có liên quan tới những thành viên khác của xã hội? Về vấn đề này, J.S. Mill viết: "Mặc dù xã hội không được tạo dựng trên cơ sở khế ước, và mặc dù sự sáng chế ra khế ước để từ đó suy ra các nghĩa vụ cũng chẳng đáp ững được mục đích tốt đẹp nào, nhưng bất cứ ai nhận được sự bảo trợ của xã hội cũng có bổn phận hoàn trả lợi ích trở lại, và bản thân sự kiện được sống trong xã hội cũng nói lên điều không thể thiếu được, rằng mỗi người phải bị ràng buộc tuân thủ theo một đường hướng cư xử đối với những người khác. Các cư xử ấy bao gồm, thứ nhất là, không làm hại đến quyền lợi của nhau; hay nói đúng hơn là những lợi ích nào đó vốn cần phải được coi là quyền dù là căn cứ vào những quy phạm pháp luật tường minh hay dựa trên sự hiểu biết ngầm; thứ hai là, mỗi người phải thực hiện bổn phận đóng góp (được xác định trên nguyên lý bình đẳng nào đó) lao động hay hy sinh để bảo vệ xã hội và các thành viên của nó khỏi bị xâm hại và quấy rối. Xã hội được biện minh cho việc ép buộc những điều kiện ấy bằng mọi giá đối với ai muốn từ chối không chịu thực hiện... Hành vi của một cá nhân có thể gây tổn thương cho những người khác hay thiếu cân nhắc đối với hạnh phúc của họ, những chưa đến mức vi phạm pháp quyền đầy đủ của họ. Khi đó người vi phạm bị trừng phạt đúng lẽ bởi dư luận, tuy không dùng đến luật pháp."
4. Quan tâm chính của Mill trong tác phẩm Bàn về tự do
Mở đầu tác phẩm Bàn về tự do Mill nhận xét rằng trong suốt lịch sử tư tưởng chính trị ý tưởng về tự do thường được giải thích như có nghĩa là “bảo vệ chống lại sự chuyên chế của tầng lớp cai trị”. Sự bảo vệ đó thông qua hai công cụ đặc biệt: hoặc với sự khẳng định một số quyền tự do nào đó của cá nhân mà chính quyền không thể xâm phạm; hoặc với cơ chế kiểm soát về mặt thể chế đối với chính quyền bởi người dân hoặc người đại diện của họ. Tuy nhiên, trong Bàn về tự do, Mill nói rõ rằng mối bận tâm chính của ông trong tiểu luận là sự đe dọa của sự chuyên chế của đa số, không được thực hành bởi các thiết chế của chính quyền, mà được thi hành bởi chính xã hội.
Do đó, trong Bàn về tự do Mill quan tâm đến việc bảo vệ cá nhân khỏi cái mà ông gọi là “sự chuyên chế của quan điểm và tình cảm đang thịnh hành”. Theo quan điểm của Mill, dạng chuyên chế đó, được thực hành bởi “xã hội đối với các cá nhân của nó” thậm chí còn áp bức hơn nhiều dạng áp bức chính trị khác. Vì không có sự bảo vệ về mặt thể chế chống lại sự áp bức của tập tục xã hội vốn hiện diện khắp nơi. Do đó, Mill tuyên bố là “sự chuyên chế của xã hội để lại rất ít phương tiện để thoát khỏi, nó đi sâu hơn vào mọi ngóc ngách của cuộc sống, và nô lệ chính tâm hồn”.
Ngoài ra, sự chuyên chế này của công luận được Mill thấy là quá nguy hiểm cũng như có phạm vi quá rộng bởi vì nó đè nén cá tính của mọi người, bóp chết tính năng động và khả năng để phát triển sở thích và tiềm năng riêng của họ. Kết quả là, như Mill nhận xét:
“…Hiện tại cá nhân biến mất vào đám đông. Trong chính trị, việc nói rằng hiện nay công luận cai trị thế giới là điều quá thừa thãi…”
Theo ông, một sức mạnh như vậy sẽ thúc đẩy sự tuân thủ một cách ngu dốt và các định kiến xã hội.
Đối diện với tính nghiêm trọng của mối nguy hại này, Mill kết luận rằng:
“Do đó, sự bảo vệ chống lại sự chuyên chế của người cai trị là không đủ; mà cũng cần có sự bảo vệ chống lại sự chuyên chế của các quan điểm và tình cảm đang thịnh hành; chống lại xu hướng xã hội áp đặt các ý tưởng như là quy tắc của hành vi đối với những ai bất đồng với nó thông qua các phương tiện khác ngoài các hình phạt dân sự…”
Vào giữa thời đại Victoria ở Anh, khoảng những năm 1850 và 1860, Mill thấy rằng nhu cầu bảo vệ những cá nhân chống đối hoặc không theo khuân mẫu khỏi môi trường không khoan dung và áp bức là vấn đề cấp thiết nhất của thời ông. Bên cạnh việc phê phán các thái độ quý tộc, Mill cũng phê phán quan điểm của lực lượng trung lưu đang lên mà ông xem như thô lỗ, nửa vời, thường được nhân cách hóa bởi các nhà công nghiệp, mục sư, và các chủ đất, vốn có xu hướng khủng bố các cá nhân có các quan điểm và sở thích khác thường và ngăn cản các cải cách xã hội nhạy cảm.
Do đó để bảo vệ các cá nhân không theo khuân mẫu khỏi sự chuyên chế của công luận, trong Bàn vệ tự do Mill tìm cách thiết lập các nguyên tắc duy lý phổ quát mà sẽ phân chia lĩnh vực của các hành vi cá nhân trong đó cá nhân được tự do hành động như họ lựa chọn mà không chịu sự can thiệp của nhà nước hay xã hội. Các nguyên tắc như vậy sẽ được sử dụng, thứ nhất, để xác định các ranh giới thích hợp giữa sự tự do cá nhân và sự can thiệp của tập thể và, thứ hai, bảo vệ cá nhân, trong một số lĩnh vực của hành vi, khỏi sự đè nén của xã hội và sự kiểm soát của chính quyền.
Với những mục đích cơ bản này, Mill trình bày trong Chương 1 của tác phẩm Bàn về tự do như sau:
“Mục đích của tiểu luận này là khẳng định một nguyên lý hết sức đơn giản …đó là mục đích duy nhất mà con người được phép, cả trên phương diện cá nhân lẫn tập thể, can thiệp vào sự tự do hành động của bất cứ thành viên nào của nó là sự tự bảo vệ. Đó là mục đích duy nhất mà quyền lực có thể thi hành hợp pháp đối với bất cứ thành viên nào của một cộng đồng văn minh, chống lại ý chí của anh ta, để ngăn chặn sự tổn hại của người khác. Lợi ích của riêng anh ta, cả về thể xác lẫn đạo đức, là không đủ để bảo chữa cho sự can thiệp như vậy.”
Mill quan tâm tới việc xem xét lại và mở rộng quan điểm về tự do vốn nằm ở trung tâm của học thuyết tự do cổ điển của thế kỉ 19. Ông làm điều này bằng cách mở rộng lĩnh vực tự do lựa chọn của cá nhân trên phạm vi xã hôi, đi ra ngoài những sự dàn xếp đơn thuần về kinh tế và chính trị để bảo vệ cá nhân khỏi các chế độ độc tài hoặc khỏi sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế tư nhân.
5. Quan điểm của Mill về tự do
Khi phát triển định nghĩa riêng của mình về tự do, Mill bắt đầu với khái niệm tiêu cực về tự do như sau: sự tự do của cá nhân để làm những gì mình muốn mà không chịu sự can thiệp của người khác. Quan điểm này về tự do có cơ sở trong niềm tin là con người cá nhân có khả năng tự do lựa chọn. Con người là một tác nhân tự trị, tự do thực hành sự kiểm soát tối cao đối cuộc sống của anh ta.
Tuy nhiên, từ quan điểm tự do cổ điển này, Mill đi đến một quan niệm tích cực hơn về tự do, tự do là sự tự phát triển của con người. Vì theo ông, tự do không đơn thuần bao gồm khả năng không bị cản trở để làm điều gì mình muốn. Mà ông thấy tự do là điều kiện không thể thiếu cho sự tự phát triển về mặt đạo đức, trí tuệ và văn hóa của con người và từ đó hiện thực hóa tính cách của mình.
Nhà nghiên cứu lịch sử của các ý tưởng, Isaiah Berlin, miêu tả quan điểm hai mặt về tự do của ông như sau:
“Mill tin vào tự do, tức là, các giới hạn nghiêm ngặt đối với quyền cưỡng ép, bởi vì ông chắc chắn rằng con người không thể phát triển và thịnh vượng, và trở thành con người hoàn thiện nếu họ không được tự do trong một lĩnh vực tối thiểu nào đó trong cuộc sống của họ khỏi sự can thiệp của người khác, lĩnh vực mà ông xem như là không thể xâm phạm.”
Hơn nữa, khi đi trình bày tỉ mỉ sự bảo vệ của ông đối với tự do cá nhân, Mill không dựa vào lý thuyết của Locke về quyền tự nhiên. Thực vậy, ông bác bỏ ý tưởng về các quyền trừu tượng như là một thứ gì đó độc lập với ý tưởng công lợi. Ông chỉ ra trong các từ ngữ mà ông nhấn mạnh khi ông xem xét lại tư tưởng công lợi như sau:
“Tôi xem công lợi là tiêu chuẩn phân xử cuối cùng đối với mọi vấn đề đạo đức; nhưng nó phải là công lợi theo nghĩa rộng nhất, làm cơ sở cho lợi ích lâu dài của con người như một sinh thể tiến bộ.”
Mill phát triển các lập luận về tự do của ông trên nền tảng công lợi theo nghĩa rộng và đã được điều chỉnh chứ không phải theo nghĩa hẹp và chính thống của Bentham. Đó là một lý tưởng mà nếu được thực hiện đầy đủ trong thực tiễn sẽ mang lại các kết quả có lợi cho cá nhân cũng như cho xã hội. Theo ông, tự do được yêu mến như một thứ gì đó cao cả, như là phương tiện cho sự tự phát triển – về mặt đạo đức, trí tuệ và thẩm mĩ – và tự thực hiện thông qua việc đưa ra những lựa chọn tự do trong cuộc sống. Tự do phải được bảo vệ và thúc đẩy như là phương tiện cho sự tiến bộ của xã hội văn minh. Ông khẳng định, điều này bắt nguồn từ sự tăng tiến của tri thức và chân lý mà sự tự do thảo luận và phát biểu có thể tạo ra.
Ngoài ra, quan điểm của Mill về tự do như là một phương tiện sống còn cho cả sự phát triển của cá nhân và sự tiến bộ của tư tưởng và xã hội có liên quan chặt chẽ với quan niệm của ông về cá tính con người và về sự đóng góp mà sự tự do tạo ra đối với sự tiến bộ đó. Quan niệm này, vốn là một trong những điểm nổi bật của tư tưởng tự do của thời kì Victoria vào giữa thế kỉ 18, tập trung vào các ý tưởng cao quý như sự tự trị, sự đa dạng, thực nghiệm, độc lập tư tưởng, và sự tiến bộ của cá nhân và xã hội.
Chính từ tầm nhìn đạo đức tinh tế này, Mill đi đến lập luận trong Bàn về tự do là sự biện minh duy nhất mà xã hội có cho sự can thiệp với sự tự do hành động của cá nhân, chống lại ý chí của anh ta, là “ngăn chặn sự tổn hại cho người khác” - cụ thể hơn, là ngăn chặn những tổn hại vật chất trực tiếp đối với người khác.
Mill phát triển nguyên tắc “tổn hại” này hơn nữa dựa vào sự phân biệt giữa các hành động tự liên quan, tức các hành động chỉ ảnh hưởng đến cá nhân và đối với các hành động đó người đó sẽ có quyền kiểm soát tối cao, và các hành động liên quan đến người khác, tức các hành động ảnh hưởng bất lợi tới lợi ích của người khác. Tuy nhiên, Mill giải thích rằng cả nguyên tắc “tổn hại” và sự phân biệt này chỉ áp dụng tới các thành viên của một “cộng đồng văn minh”, tới những người trưởng thành, tức những người có “khả năng tự hướng dẫn cho sự phát triển của họ bằng sự thương thảo và thuyết phục” Theo ông, nguyên tắc và sự phân biệt này không thể áp dụng cho trẻ em, hoặc cho các thành viên của các dân tộc lạc hậu, vì hành vi của họ cần sự hướng dẫn của người khác.
Mill tiếp tục phát triển lập luận của mình bằng cách minh định ba lĩnh vực của hành vi tự liên quan, trong đó sự thực hành tự do không gây hại cho người khác ngoài cá nhân người đó, và do đó sẽ hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của xã hội và nhà nước. Thứ nhất là tự do tư tưởng, thảo luận và bày tỏ trong các dạng thức khác nhau của nó. Theo lời ông, lĩnh vực này thuộc về “phạm vi bên trong của ý thức”, bao gồm “tự do ý thức theo nghĩa toàn diện nhất; tự do tư tưởng và cảm nhận; và tự do tuyệt đối của các quan điểm và tình cảm đối với mọi chủ đề, trên các mặt thực tiễn hay tự biện, khoa học, đạo đức hay thần học.
Lĩnh vực thứ hai và thứ ba của các hành vi tự liên quan được Mill nêu ra là “tự do sở thích và theo đuổi nghề nghiệp” - nghĩa là, tự do theo đuổi lối sống mà bạn lựa chọn; và “tự do ….hội họp” – nói cách khác, sự tự do kết hợp của các cá nhân, những người liên kết vì các mục đích mà không gây hại cho người khác. Liên quan đến ba phạm vi của các hành động cá nhân này, Mill phát biểu một cách dứt khoát là:
“Không xã hội nào được coi là tự do mà những sự tự do này không được tôn trọng, dù cho bất cứ dạng chính quyền nào mà nó có, và không xã hội nào được coi là hoàn toàn tự do mà những sự tự do này không tồn tại một cách tuyệt đối và vô điều kiện”.
Trong chương 2 của Bàn về tự do Mill phát triển các lập luận hết sức chặt chẽ - chiếm một phần ba cuốn tiểu luận của ông – cho sự tự do thứ nhất trong ba sự tự do của các hành vi tự liên quan này – tự do tư tưởng và thảo luận. Ông bắt đầu bằng khẳng định niềm tin của ông vào sự tự do tuyệt đối của chính kiến và bằng cách tố giác tất cả sự đàn áp đối với tự do thảo luận với các lời lẽ hùng hồn sau:
“Nếu tất cả nhân loại trừ một người, có chung một quan điểm, và chỉ một người có quan điểm trái ngược, thì việc nhân loại bắt người đó phải im lặng cũng không chính đáng hơn việc anh ta bắt cả nhân loại phải im lặng nếu anh ta có quyền lực.”
Ngoài ra, Mill chỉ ra rằng, tự do tư tưởng và “tự do bày tỏ và xuất bản các quan điểm trong thực tiễn là không thể tách rời”. Bảo vệ tự do tư tưởng và do vậy cũng liên quan đến việc bảo vệ tự do bày tỏ trong mọi hình thức – bao gồm tự do ngôn luận và xuất bản. Theo Mill, tính cấp thiết của nhiệm vụ này được nhấn mạnh không chỉ bởi kinh nghiệm lịch sử về sự truy tố và đàn áp tư tưởng dị giáo, khác thường, đi ra ngoài khuân khổ, mà cũng bởi mối đe dọa hiện tại được đề ra bởi sự chuyên chế của các ý kiến và tình cảm đang thịnh hành ở Anh vào giữa thế kỉ 19.
Sự bảo vệ tự do tư tưởng và thảo luận của Mill dựa vào niềm tin là, những sự tự do này là phương tiện cần thiết để khám phá ra chân lý và sự tiến bộ của tri thức và sự hiểu biết – các mục tiêu có giái trị và lợi ích nội tại cho xã hội. Niềm tin này dẫn ông đi đến trình bày ba luận điểm cụ thể chống lại sự áp bức, và ủng hộ sự khoan dung đối với các quan điểm mà có thể xung đột với các quan điểm của đa số phổ biến. Thứ nhất, quan điểm của thiểu số mà đang bị đàn áp có thể là đúng, trong khi quan điểm đa số có thể là sai lầm. Mill thấy rằng, mọi thời đại có nhiều quan điểm mà các thời đại sau thấy không chỉ sai lầm mà còn vô lý – chẳng hạn, như niềm tin cho rằng trái đất phẳng. Trái lại, nhiều ý tưởng bị lên án là nguy hiểm hay dị giáo sau đó được chấp nhận nồng nhiệt bởi các thế hệ kế tiếp. Ví dụ về Socrates và Jesus bị kết án và xử tử vì các quan điểm được cho là dị giáo và báng bổ, tuy nhiên sau đó được tôn kính là những người thầy đạo đức vĩ đại. Lịch sử của các tư tưởng và các phát kiến của con người cung cấp cho chúng ra những cảnh báo rõ ràng chống lại việc đưa ra bất cứ giả định về tính không thể sai lầm liên quan đến các quan điểm chính thống. Mill tuyên bố rằng, “làm im miệng mọi sự thảo luận” là “một giả định về tính không thể sai lầm”.
Luận điểm thứ hai mà Mill phát triển để bảo vệ tự do tư tưởng và thảo luận như là phương tiện để khám phá chân lý là, nếu quan điểm thiểu số bị đàn áp là sai lầm, thì chân lý thực sự được củng cố thông qua một quá trình bác bỏ có tính trí tuệ đối với quan điểm sai lầm đó. Vì sự đàn áp quan điểm thiểu số đó sẽ chỉ lấy đi khỏi những người có quan điểm đúng, phổ biến phương tiện để hiểu rõ lý do về tính đúng đắn của nó. Thực vậy, Mill nhấn mạnh, việc nắm giữ một quan điểm có thể đúng nhưng không hiểu được tại sao lại như vậy có một giá trị rất nhỏ.
Ngoài ra, quá trình khảo sát và thảo luận, một cách đầy đủ và thường xuyên, ngay cả một quan điểm đúng cũng sẽ ngăn chặn nó khỏi suy thoái theo thời gian thành “một chân lý giáo điều chết cứng”. Với sự không tồn tại của một môi trường phê phán như vậy, Mill thấy rằng “cả thầy và trò sẽ ngủ quên trên ghế của họ, ngay khi không có một đối thủ trong lớp”.
Luận điểm thứ ba và là luận điểm cuối cùng dựa trên sự thừa nhận là một quan điểm có thể sai lầm một phần, và có thể chứa đựng một phần chân lý. Nói cách khác, nó có thể rơi vào trường hợp, là có cả đúng và sai. Quá trình khảo sát một cách phê phán đối với quan điểm như vậy sẽ giúp tách biệt phần đúng đắn của nó ra khỏi phần sai lầm, củng cố cho cái trước, và loại bỏ cái sau. Mill thừa nhận, chỉ có sự tự do thảo luận và tranh luận mới làm cho điều này có thể, tức là sửa chữa cho các quan điểm, niềm tin chỉ đúng một phần.
Tuy nhiên, dù cho sự mạnh mẽ và hùng hồn trong lời biện hộ của Mill đối với tự do thảo luận, ông không tin rằng sự tiến bộ của chân lý sẽ là kết cục tất yếu. Ông viết, “Lời quả quyết cho rằng chân lý luân luôn chiến thắng sự áp bức, là một trong những sai lầm dễ thương mà con người lặp đi lặp lại cho đến khi trở nên cũ rích, nhưng tất cả kinh nghiệm đã bác bỏ điều này”. Vì ông nhận thấy, “Lịch sử tràn ngập với các ví dụ về việc chân lý bị hạ bệ bởi sự đàn áp”. Vì vậy ông bảo vệ nhiệt thành cho sự khoan dung liên quan đến các quan điểm và niềm tin mới lạ hay không theo khuân khổ và cho một thái độ phê phán cởi mở đối với các quan điểm chính thống hiện hành, vốn được tin tưởng và phổ biến rộng rãi. Ông khẳng định, chỉ thông qua quá trình liên tục thảo luận và tranh luận tự do thì “các quan điểm và các thực tiễn sai lầm sẽ dần dần bộ lộ”. Một kết quả như vậy, được Mill bảo vệ từ lập trường công lợi đã được điều chỉnh bởi ông, sẽ mang lại lợi ích cho sự phát triển đạo đức và trí tuệ của cá nhân và cho sự tiến bộ văn hóa và tư tưởng của xã hội.