1. Khái quát về thủ tục biểu quyết

Thủ tục biểu quyết là một thủ tục rất quan trọng trong việc thảo luận và quyết định các công việc của Nghị viện bởi vì Nghị viện là một cơ quan tập thể, quyết định các vấn đề theo đa số. Để tìm hiểu cặn kẽ về thủ tục biểu quyết, cần phải xem xét thủ tục này cả về thể thức biểu quyết lẫn cách tính đa số trong các lần biểu quyết.

Truyền thống Nghị viện các nước có quy định về rất nhiều thể thức biểu quyết khác nhau. Ngay trong một Viện, người ta cũng có thể áp dụng nhiều hình thức biểu quyết khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của nội dung biểu quyết. Chẳng hạn, việc biểu quyết về nghị trình có thể bằng hình thức đơn giản là giơ tay, còn để biểu quyết về việc xét tư cách đại biểu của nghị sĩ thì lại áp dụng biện pháp biểu quyết bỏ phiếu kín.

Thông thường, Nghị viện các nước thường quy định các thể thức biểu quyết như sau:

2. Biểu quyết giơ tay

Thể thức này là thể thức thông dụng, áp dụng để giải quyết những vấn đề thông thường của Nghị viện. Theo cách thức biểu quyết này, quyền quyết định các vấn đề do Nghị viện nêu ra chỉ thuộc về những người hiện diện trong phiên họp biểu quyết. Theo đó, trước hết, Chủ tọa phiên họp đặt vấn đề biểu quyết và các Nghị sĩ biểu quyết bằng cách giơ tay lên khỏi đầu cho đến khi việc xác định kết quả biểu quyết được thực hiện xong . Khi có sự nghi ngờ về tính chính xác của kết quả biểu quyết, các nghị sĩ có thể kiến nghị biểu quyết lại hoặc biểu quyết bằng hình thức khác.

3. Biểu quyết đứng dậy

Đây là một thể thức biểu quyết tương tự với thể thức biểu quyết giơ tay. Thay vì đếm số lượng các cánh tay giơ lên, người ta đếm số nghị sĩ đứng dậy.

4. Biểu quyết ghi danh

Biểu quyết này được thực hiện như sau:

Trước hết, Chủ tọa gọi tên các nghị sĩ theo thứ tự mẫu tự lên trước bàn của Chủ tọa và ghi quyết định của lần lượt từng nghị sĩ; Quyết định biểu quyết của nghị sĩ có thể là: hoặc chấp thuận, hoặc bác bỏ, hoặc không có ý kiến. Việc kiểm tra kết quả biểu quyết theo thể thức này được tiến hành bằng cách Văn phòng Nghị viện sẽ cho đọc tên các nghị sĩ chấp thuận, các nghị sĩ bác bỏ, và các nghị sĩ không có ý kiến. Nếu không có nghị sĩ nào phản đối là biểu quyết của mình bị ghi lầm, thì Chủ tọa sẽ căn cứ tỷ lệ thu được để tuyên bố kết quả của cuộc biểu quyết . Thể thức biểu quyết ghi danh có hai đặc điểm:

(1) công khai vì qua thủ tục này ai cũng biết rõ một Nghị sĩ đã biểu quyết như thế nào: chấp thuận, bác bỏ hay không có ý kiến.

(2) không cho phép sử dụng trung gian vì mỗi Nghị sĩ sẽ phải đưa ra ý kiến của mình khi được Chủ tọa gọi tên.

Nội quy các Nghị viện cũng cấm các nghị sĩ sử dụng uỷ nhiệm thư để biểu quyết theo thể thức này. Với những ưu điểm về tính chính xác, thể thức biểu quyết ghi danh được thường xuyên sử dụng nhiều trong Nghị viện các nước để quyết định một số vấn đề quan trọng. Tuy vậy, đây lại là một công cụ đấu tranh chính trị khá hiệu quả của các nhóm thiểu số trong Nghị viện khi vào một thời điểm nào đó nhóm của họ có mặt đầy đủ hơn nhóm đa số, hoặc nếu không áp đảo được nhóm đa số thì cũng có thể trì hoãn một vài quyết nghị mà họ không thích.

5. Biểu quyết bằng cách bỏ phiếu kín

Với tính chất bí mật về các quyết định của các nghị sĩ, các Nghị viện thường dùng biện pháp này khi quyết định những vấn đề về nhân sự, hoặc về những vấn đề có tính chất nhạy cảm liên quan đến cá nhân, nhất là trong việc bầu cử Chủ tịch Nghị viện, các Chủ tịch Uỷ ban cùng các chức vụ khác trong Nghị viện. Thể thức biểu quyết này thường được tiến hành bằng cách Chủ toạ sẽ gọi tên theo thứ tự, các nghị sĩ sẽ lần lượt đi lên khu vực bỏ phiếu, chọn một phiếu trong ba loại phiếu đã in sẵn: loại chấp thuận, loại bác bỏ, loại không ý kiến và bỏ vào thùng phiếu tại phòng họp. Ngày nay, với sự giúp đỡ của khoa học công nghệ hiện đại, việc biểu quyết theo thể thức bỏ phiếu kín còn có thể thực hiện bằng các phương tiện điện tử. Nhưng để đảm bảo giá trị cho cách thức biểu quyết này, Quốc hội Thụy Điển còn yêu cầu bảng thông báo kết quả điện tử phải được chụp ảnh và đưa vào biên bản phiên họp. Ngoài ra, còn có một phương thức biểu quyết rất đơn giản, đó là biểu quyết bằng miệng. Việc biểu quyết bằng miệng được thực hiện bằng cách trước hết Chủ tọa sẽ nêu vấn đề cần biểu quyết, sau đó hỏi những ai ủng hộ và những ai phản đối. Dựa vào mức độ chênh lệch về âm lượng của câu trả lời “có” hoặc “không” mà chủ tọa sẽ quyết định kết quả của cuộc biểu quyết. Sự kiểm phiếu Việc kiểm phiếu là một công việc có nhiều tính kỹ thuật. Việc kiểm phiếu được thực hiện bằng cách đếm phiếu của các nghị sĩ theo các ý kiến của nghị sĩ đưa ra. Thông thường, thái độ của nghị sĩ thể hiện đối với các cuộc biểu quyết được thể hiện dưới các hình thức:

- “Đã bỏ phiếu thuận”: nghĩa là nghị sĩ chấp thuận phương án được đem ra biểu quyết.

- “Đã bỏ phiếu chống”: nghĩa là nghị sĩ đã bác bỏ phương án nói trên.

- “Đã bỏ phiếu trắng hoặc không tham gia biểu quyết”: nghĩa là những nghị sĩ thể hiện không ủng hộ, cũng không phản đối về phương án biểu quyết. Một số Nghị viện còn có sự phân biệt rõ ràng giữa việc không có ý kiến và từ chối biểu quyết bởi ý nghĩa của hai vị trí này là khác nhau.

Ngoài ra, trong những cuộc kiểm phiếu có yêu cầu chi tiết thì việc kiểm phiếu còn phải tính đến các nghị sĩ:

- “Không thể tham dự vào cuộc bỏ phiếu”: Đó là những nghị sĩ dù có mặt nhưng không được quyền tham gia biểu quyết vì lý do tư cách nghị sĩ của họ đang bị “treo” hoặc để tránh xung đột lợi ích hoặc họ còn đang phải chờ được hợp thức hoá (trường hợp đại biểu dự khuyết như ở Thụy Điển);

- “Vắng mặt vì được phép”: Đó là những nghị sĩ có lý do chính đáng đã được Nghị viện cho phép không dự phiên họp (như bị ốm hoặc đang nghỉ phép);

- “Không tham dự vào cuộc bỏ phiếu”: Theo tục lệ, để thể hiện sự vô tư trong việc điều khiển phiên họp, Chủ tọa phiên họp không biểu quyết về những phương án được thảo luận trong phiên họp.

6. Xác định đa số

Nghị viện các nước có nhiều các thức xác định đa số khác nhau đối với từng trường hợp cụ thể. Nhìn chung, thường có các cách xác định đa số như sau:

6.1. Đa số thường

Việc xác định đa số thường được áp dụng nhiều nhất trong các cuộc biểu quyết, đặc biệt là các đối với các cuộc biểu quyết không có tính chất phức tạp. Cách thức xác định đa số phiếu thường được tiến hành bằng cách trong quá trình kiểm phiếu, người ta tính các lá phiếu thuận và các lá phiếu nghịch. Bên nào có số lượng lớn hơn, cho dù chỉ là một lá phiếu thì bên đó sẽ thắng. Trong cách thức xác định đa số thường này, các phiếu bất hợp lệ và phiếu trắng, hay các nghị sĩ không biểu quyết không cần được tính đến. Tuy vậy, cần phải tính đến trường hợp là nếu phiếu thuận bằng với số với phiếu nghịch thì phần thắng sẽ thuộc về bên nào? Nếu căn cứ vào lý luận, người ta phải kết luận biểu quyết đó không được chấp nhận. Nhiều Nghị viện ở Châu Âu áp dụng giải pháp này như CHLB Đức, Áo, Bỉ, Đan Mạch, Pháp... Một số nước như Anh, Nhật, Philippines lại quy định trong trường hợp này Chủ tọa phiên họp là người có quyết định cuối cùng. Theo đó, thông thường chủ tọa phiên họp sẽ không được biểu quyết nhưng nếu phiếu thuận ngang phiếu nghịch, thì Chủ toạ sẽ bỏ phiếu và quyết định vấn đề bằng lá phiếu của mình. Ở Thụy Điển, vấn đề này được giải quyết bằng cách rút thăm. (Điều 6, Luật Nghị viện Thụy Điển). Ở Hà Lan và Indonesia, Nghị viện lại áp dụng biện pháp biểu quyết lại trong phiên họp lần sau.

6.2. Các đa số đặc biệt

Trong những cuộc biểu quyết về các vấn đề có tính chất hệ trọng, Hiến pháp các nước thường quy định rằng các quyết định của Nghị viện cần phải thu được một đa số đặc biệt. Thông thường, các vấn đề có yêu cầu đa số đặc biệt ở Nghị viện các nước là:

- Cho phép hành pháp truy tố, bắt giam, hay xét xử một nghị sĩ;

- Xem xét vấn đề bãi nhiệm một nghị sĩ;

 - Kiến nghị giải tán Chính phủ;

- Kiến nghị thực hiện thủ tục luận tội các quan chức của ngành hành pháp;

- Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp;

- Thông qua các bản tu chính Hiến pháp. Các đa số đặc biệt thường được quy định là 2/3, hoặc 3/4 tổng số nghị sĩ của Nghị viện. Tuy vậy, ở đây lại có vấn đề đặt ra là “tổng số nghị sĩ của Nghị viện” được hiểu như thế nào. Thực tế, tổng số này được xác định tuỳ thuộc vào truyền thống của từng Nghị viện. Đó có thể là tổng số nghị sĩ theo quy định của Hiến pháp, hoặc tổng số nghị sĩ của Nghị viện không kể các ghế nghị sĩ bị trống (do nghị sĩ từ nhiệm, bị miễn nhiệm, hoặc bị bắt giam mà chưa có người thay thế), hoặc cũng có thể là tổng số nghị sĩ có mặt….

Trong lịch sử của Hạ viện Pháp, vấn đề này đã gây tranh luận nhiều lần, đặc biệt là vào những năm 1947 và 1949. Giải pháp được Hạ viện Pháp chấp nhận là mẫu số cho việc tính các đa số đặc biệt kể trên là tổng số nghị sĩ hiện thời của Nghị viện. Tức là lấy tổng số nghị sĩ tối đa (thường do Hiến pháp quy định) trừ đi những ghế hiện thời bị trống. Theo cách thức này, những nghị sĩ mặc dù có thể không thực hiện quyền biểu quyết (nghỉ phép, ốm đau, hoặc chưa đủ tư cách thành viên) vẫn được tính vào tổng số. d) Tuyên bố kết quả biểu quyết Sau khi kiểm phiếu và xác định xong kết quả biểu quyết, kết quả này sẽ được tuyên bố tại Nghị viện. Một quy tắc nghiêm ngặt được đặt ra đối với quá trình biểu quyết của Nghị viện, đó là các chi tiết về biểu quyết phải được ghi vào biên bản của Nghị viện. Ngay như việc biểu quyết bằng phương tiện điện tử thì trong biên bản của Nghị viện còn phải kèm theo cả ảnh chụp kết quả này. Theo nguyên tắc, một khi kết quả cuộc bầu cử được tuyên bố, các nghị sĩ không thể đính chính lá phiếu của mình. Tuy vậy, các nghị sĩ cũng có thể đính chính một cách danh nghĩa nhiều hơn là mang ý nghĩa thực tế bằng cách tuyên bố rằng họ đã nhầm lẫn trong lúc bỏ phiếu. Nhưng kết quả đã được Nghị viện tuyên bố, được ghi vào biên bản thì không thể nào thay đổi được.

7. Thủ tục về biên bản phiên họp

Biên bản của các phiên họp của Nghị viện có một vị trí quan trọng trong hoạt động của Nghị viện. Biên bản là một tài liệu quý giá ghi lại những hoạt động của Nghị viện, là cơ sở để thực hiện việc giải thích pháp luật và là chứng cứ chứng minh cho giá trị của các quyết định của Nghị viện là hợp pháp và được thực hiện theo đúng quy trình. Chính vì biên bản các phiên họp có tầm quan trọng như vậy nên Luật về Nghị viện, và Nội quy của Nghị viện các nước thường dành một phần lớn để quy định về nội dung và thủ tục ghi biên bản phiên họp của Nghị viện.

Thông thường, nội dung của biên bản ghi lại tất cả những vấn đề cơ bản trong tiến trình làm việc của Nghị viện. Điều 200, Nội quy Hạ viện Nhật Bản có quy định các vấn đề được ghi vào biên bản gồm: ngày, giờ khai mạc, bế mạc, tạm ngừng phiên họp; chương trình nghị sự; tên những nghị sĩ đã tham gia thủ tục điểm danh; việc nhận kiến nghị, thông báo; các đệ trình của Chính phủ, các kiến nghị và việc rút các biện pháp; nội dung các vấn đề được thảo luận tại phiên họp; báo cáo của các uỷ ban và các báo cáo ý kiến thiểu số; các thủ tục được tiến hành tại phiên họp, các câu hỏi và trả lời; tên của các nghị sĩ đã biểu quyết nếu cuộc biểu quyết là công khai; các vấn đề khác mà Nghị viện xét thấy cần đưa vào biên bản. Nghị viện các nước khác cũng có những quy định tương tự.

Thông thường, ở các nước, biên bản phiên họp được ghi bằng biện pháp ghi tốc ký. Sau đó, biên bản sẽ được chuyển đến cho các nghị sĩ để những người này có thể hiệu đính những lời phát biểu của mình trong biên bản, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc không được làm thay đổi những ý chính của bài phát biểu. Nếu có kiến nghị xem xét lại những hiệu đính này thì Nghị viện phải xem xét vấn đề đó trong một phiên họp toàn thể. Các biên bản này phải được người chủ tọa phiên họp đó ký xác thực và được lưu giữ tại bộ phận lưu trữ của Nghị viện. Ngoài ra, nó cũng được công bố công khai trong các Công báo của Nghị viện.