1. Khái niệm về quyền con người

Quyền con người (Human rights, Droits de LHomme) là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền được công nhận dành cho con người do tính chất nhân bản của nó, sinh ra từ bản chất con người chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật hiện hành. Đây là những quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm do đấng tạo hóa ban cho con người như quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc, những quyền tối thiểu của con người mà bất kì chính phủ nào cũng phải bảo vệ.

Quyền con người không những được nhìn nhận trên quan điểm các quyền tự nhiên (natural rights) mà nó còn được nhìn nhận trên quan điểm các quyền pháp lý (legal right). Theo đó:

 “quyền con người được hiểu là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cả nhân và các nhóm chổng lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và sự tự do cơ bản của con người.

2. Đặc điểm của quyền con người

Quyền con người có một số đặc điểm sau:

1) Tính phổ quát, thể hiện ở chỗ quyền con người là quyền bẩm sinh, gắn với bản chất con người, là di sản chung của loài người. Quyền con người mang tính phổ quát vì con người ở đâu trên trái đất này cũng đều là thành viên của cộng đồng nhân loại;

2) Tính đặc thù, thể hiện ở việc quyền con người mang những đặc trưng, bản sắc riêng tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống văn hoá, lịch sử ở từng khu vực, quốc gia, vùng lãnh thổ. Sự thừa nhận tính đặc thù của quyền con người cho phép các quốc gia có quyền đưa ra những quy định pháp luật cụ thể, không trái với các chuẩn mực quốc tế ghi trong các điều ước quốc tế về nhân quyền, như quy định hạn chế đối với một số quyền dân sự, chính trị hoặc mức độ bảo đảm các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội;

3) Tính giai cấp, tuy không phải nằm trong nội dung các quyền mà được thể hiện trong việc thực thi quyền con người. Với tư cách là chế định pháp lí, quyền con người gắn liền với nhà nước và pháp luật - là những hiện tượng mang tính giai cấp sâu sắc. Quyền con người có thể được phân loại dựa theo chủ thể quyển và nội dung quyền. Theo chủ thể quyển: gồm quyền của cá nhân, quyền của nhóm (như phụ nữ, trẻ em) và quyền quốc gia (quyền của quốc gia, dân tộc thiểu số, quyền phát triển). Quyền của nhóm là quyền cá nhân được quy định cho một nhóm xã hội dựa trên một số đặc điểm chung nào đó, ví dụ như dễ bị tổn thương hoặc bị thiệt thòi như phụ nữ, trẻ em, người tj nạn, người lao động nhập cư, người bị giam giữ theo thủ tục tố tụng hình sự... Quyền phát triển là quyền của các quốc gia, dân tộc, đồng thời cũng là quyển của cá nhân. Theo nội dung quyển gồm nhóm quyển dân sự, chính trị (quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lí nhà nước, xã hội; quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo...) và nhóm quyền kinh tế, văn hoá, xã hội (quyền sở hữu, quyền làm việc, quyền được bảo vệ sức khỏe; quyền học tập, quyền hưởng thụ văn hoá...).

Quyền con người được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế như Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyển con người, Công ước quốc tế về các quyển dân sự, chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoả, xã hội năm 1966.

Ở nước ta, quyền con người được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ tuật tố tụng hình sự, Bộ luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình, các luật về bầu cử, Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo... Những nguyên tắc chung của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền con người bao gồm:

1) Nguyên tắc dân tộc tự quyết - nguyên tắc nền tảng, vì một dân tộc không có quyển tự quyết thì không thể nói đến quyền con người của từng cá nhân thành viên của dân tộc đó;

2) Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ. Điều 52 Hiến pháp năm 1992 quy định “mọi công dân bình đẳng trước pháp luật". Nguyên tắc này đã được cụ thể hoá trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước như Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật dân sự, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội...,

3) Nguyên tắc bình đẳng giới - nguyên tác đã được khẳng định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác như Bộ luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội..;

4) Nguyên tắc cấm hồi tố trong luật hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 4999, theo đó sẽ không áp dụng một điều luật hay quy định về một tội danh mới, hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới, hoặc hạn chế phạm vi áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

3. Quyền dân tộc cơ bản là gì?

Quyền dân tộc cơ bản đó là quyền không thể thiếu được đối với một dân tộc. Pháp luật quốc tế hiện đại ghi nhận quyền tồn tại và phát triển của một dân tộc không bị lệ thuộc, bị áp bức hoặc bị đô hộ bởi thế lực bên ngoài, quyển sống trong độc lập, tự do, bình đẳng, tự mình quyết định chế độ chí trị của mình, quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ, chữ viết của dân tộc mình trong giao lưu xã hội, trong giáo dục, trong thực thi công quyền, quyền được bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc.

Theo kinh nghiệm của Việt Nam, rút ra từ cuộc đấu tranh và từ đời sống thực tế, các quyền dân tộc cơ bản đó gồm bốn yếu tố cấu thành: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Bốn yếu tố này gắn kết với nhau một cách hữu cơ và hợp thành một thể thống nhất.

Điều 1 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định rõ nội dung của bốn yếu tố này. Các nội dung này cũng được khẳng định trong các văn kiện pháp lí quốc tế.

Bảo đảm quyền dân tộc cơ bản cho tất cả các dân tộc là yêu cầu quan trọng của pháp luật quốc tế hiện đại, là xu hướng của thời đại, là đường lối, chính sách tiến bộ của các nước. Việt Nam là nước có nhiều đóng góp để xây dựng và bảo vệ quyền dân tộc cơ bản. Phạm trù quyền dân tộc cơ bản được thừa nhận là hòn đá tảng của nền pháp luật quốc tế ngày nay.

=> Kết luận: Quyền dân tộc cơ bản là những quyền cơ bản nhất, đồng thời cũng là cơ sở tối thiểu để bảo đảm cho một dân tộc tồn tại và phát triển bình thường, là cơ sở để dân tộc đó thực hiện các quyền khác của mình.

Quyền dân tộc cơ bản thông thường bao gồm bốn yếu tố: độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

+ Độc lập: Tức là nhà nước đó phải tự định đoạt vận mệnh dân tộc mình mà không bị lệ thuộc vào sự can thiệp của nước ngoài nào; không có quân đội nước ngoài đóng trên lãnh thổ; đó phải là một nhà nước có chủ quyền, có nhân dân và có lãnh thổ riêng.

+ Có chủ quyền: Nhà nước có chủ quyền là nhà nước có quyền tự quyết riêng về đối nội, đối ngoại, chiến tranh – hòa bình của quốc gia mình.

+ Thống nhất: Thống nhất ở đây là thống nhất về tổ chức chính quyền nhân dân từ trung ương đến địa phương, về hệ thống pháp luật, về lãnh thổ,…

+ Toàn vẹn lãnh thổ: một nhà nước có chủ quyền, thống nhất không bị chia cắt về lãnh thổ: đất liền, các hải đảo, vùng biển, vùng trời...

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa quyền con người và quyền dân tộc

Thứ nhất: Sự phát triển lý luận và pháp luật quốc tế về quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập năm 1945

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN nói chung, quyền dân tộc tự quyết nói riêng đã và đang đóng góp to lớn, cả về lý luận và thực tiễn vào sự phát triển và hiện thực hóa QCN.

Về lý luận, quan điểm của Người về QCN được hun đúc trong suốt quá trình đi tìm đường cứu nước và đặc biệt, được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945; một mặt, là sự kết tinh nhân phẩm và giá trị của con người Việt Nam trong lịch sử; mặt khác, là sự kế thừa những giá trị nhân văn của loài người. Đó là sự kết hợp một cách biện chứng giữa giá trị truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và thời đại, để từ đó khẳng định hùng hồn các quyền cơ bản của con người gắn liền với quyền dân tộc thiêng liêng: Độc lập, tự do, chủ quyền quốc gia, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ... Bằng sự “suy rộng ra”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho bước phát triển lý luận về QCN. Người đã nâng những lý tưởng truyền thống của thế kỷ XVIII - XIX lên ngang tầm với lý tưởng của thời đại mới: Thời đại giải phóng dân tộc, đập tan xiềng xích của chủ nghĩa thực dân, thời đại của các dân tộc bị áp bức, bóc lột giành lại quyền sống, quyền độc lập, tự do, quyền dân chủ và phát triển; đã ý thức sâu sắc được vấn đề then chốt của quyền con người là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự giải phóng con người đích thực; đề cao tính quyết định và không tách rời của quyền dân tộc tự quyết, của độc lập, tự do cho dân tộc với QCN. Tư tưởng tiên phong ấy đã trở thành kim chỉ nam cho lý luận đương đại về QCN: Quyền cá nhân gắn liền với quyền của cộng đồng, quyền tập thể; độc lập, tự do cho dân tộc và phát triển là những quyền cơ bản của con người; QCN không bao giờ có thể cao hơn và thoát ly chủ quyền quốc gia.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN không chỉ tạo nền tảng cho việc xây dựng và hiện thực hóa các văn bản pháp lý mang tính chất hiến định và pháp định của Việt Nam, mà còn trở thành một trong những cơ sở của pháp luật quốc tế hiện đại trong việc thiết lập phạm trù “quyền dân tộc cơ bản”. Ngay từ giữa thế kỷ XX, nhiều nước Á - Phi đã thừa nhận đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào việc xác lập một định chế pháp lý quốc tế mới bảo vệ các quyền tự do và bình đẳng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là quyền thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc; đóng góp lý luận về quyền dân tộc tự quyết (đặc biệt là quyền được tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa,...) và quyền của những nhóm người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội (phụ nữ, trẻ em, người già, người nghèo,...). Đánh giá về ý nghĩa và tầm vóc quốc tế đối với tư tưởng về QCN trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, tại Lễ trao bằng Tiến sĩ Luật khoa danh dự cho Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1959, Giám đốc Trường Đại học Tổng hợp Băng-đung (In-đô-nê-xi-a) khẳng định: “Đó là một đạo luật mới của nhân dân thế giới khẳng định quyền tự do, độc lập bất khả xâm phạm của các dân tộc bị áp bức”.

Về thực tiễn, trong thời đại ngày nay, bảo vệ QCN luôn gắn liền với các mục tiêu lớn của loài người, là chủ đề nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế. Quyền con người, mặc dù là đặc quyền vốn có của con người, nhưng không tự nhiên hiện hữu ở tất cả mọi người, mọi dân tộc và mọi nền văn hóa; trái lại, phải trải qua quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh đầy bi tráng của con người trước sự thống trị của những lực lượng tự nhiên và xã hội mới giành được.

Quyền con người là vấn đề chính trị quốc tế mang bản chất lợi ích giai cấp, quốc gia - dân tộc sâu sắc. Trong quan hệ chính trị - pháp lý quốc tế, QCN bị khúc xạ qua lăng kính “tiêu chuẩn kép” về quyền (đang bị xem là dạng thức của “chủ nghĩa đế quốc mới về văn hóa”) mà các siêu cường đã và đang áp đặt cho các quốc gia đang phát triển; là nội dung then chốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” và “can thiệp nhân đạo” cũng như cuộc chiến “chống chủ nghĩa khủng bố” của một số cường quốc thông qua việc hoạch định chính sách đối ngoại, vấn đề an ninh toàn cầu, hòa bình và phát triển.

Các chính sách ấy đã phớt lờ và chà đạp lên luật pháp quốc tế (vốn xác lập nguyên tắc nền tảng là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế) bằng việc can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền. Vì vậy, hơn lúc nào hết, tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN đang rọi chiếu và chỉ lối cho nhận thức và hành động của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch về QCN cũng như trong sự nghiệp chăm lo, bảo vệ và thúc đẩy việc tôn trọng và hiện thực hóa các quyền và tự do cơ bản cho nhân dân đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng. Thực tế đã chứng minh, đối với một dân tộc không có chủ quyền thì không thể có tự do và ngược lại, một dân tộc dùng sức mạnh của mình đi thống trị, nô dịch, áp đặt, chà đạp lên một dân tộc khác thì dân tộc đó cũng không thể là dân tộc nhân danh cho tự do đích thực. Sự thờ ơ, chối bỏ hay tước đi các giá trị thiêng liêng về quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc mà mỗi người dân xứng đáng được hưởng đều đi ngược lại tư tưởng vĩ đại của Người. 

Thứ hai: Quyền con người gắn liền với quyền dân tộc tự quyết, với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Quyền con người gắn liền với quyền dân tộc tự quyết, với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn, một con đường phát triển không chỉ của một số quốc gia - dân tộc, mà thực sự là hiện thực và tương lai của nhân loại, là chân lý xác thực đối với các quốc gia bị áp bức, nô dịch, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có đóng góp quan trọng trong phát triển lý luận mác-xít nói riêng, lý luận và hệ thống pháp luật quốc tế nói chung về QCN và quyền dân tộc tự quyết. Cuộc đấu tranh vì quyền phổ thông đầu phiếu, công bằng xã hội, các quyền và tự do cơ bản của người lao động, đặc biệt là của giai cấp công nhân và những nhóm yếu thế trong xã hội, do những người xã hội chủ nghĩa khởi xướng, đã được áp dụng trong xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới tại nước Nga Xô-viết vào năm 1917 và Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam vào năm 1945. Những thành tựu to lớn về QCN ở các nước xã hội chủ nghĩa đã được đưa vào trong hệ thống pháp luật quốc tế, thể hiện trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948) và hai công ước quốc tế cơ bản về QCN: Công ước quốc tế về quyền dân sự - chính trị và Công ước quốc tế về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa (năm 1966). Không phải ngẫu nhiên, nhóm soạn thảo của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người vào năm 1948, bao gồm Rene Cassin (Giáo sư luật và nhà lập pháp người Pháp) và phu nhân Tổng thống Mỹ Elenor Roosevelt - đại biểu cho quan điểm phương Tây, là hai trong số những đại biểu thừa nhận sự mang ơn các lý tưởng xã hội chủ nghĩa, của các nhà xã hội chủ nghĩa và phong trào xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới, sự đóng góp vô giá của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với sự hình thành và phát triển các QCN phổ quát và toàn cầu ngày nay. Những tư tưởng tiến bộ về giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại và giải phóng các nhóm xã hội yếu thế của những người cộng sản đã lan tỏa sang những người phi mác-xít, những trào lưu, xu hướng giải phóng dân tộc và các phong trào xã hội khác không theo đường lối xã hội chủ nghĩa.

Bình đẳng và không phân biệt đối xử được xem là nguyên tắc nền tảng, hạt nhân của luật nhân quyền quốc tế hiện đại. Về điểm này, công lao của chủ nghĩa xã hội hiện thực và những người cộng sản là rất đáng lưu ý. Không phải ai khác, chính những người cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa đã kế thừa và phát triển di sản của các cuộc cách mạng xã hội thời kỳ Phục hưng và Khai sáng.

Đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các nhà cộng sản lỗi lạc tiền bối, như C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin là đã lan tỏa sức sống mãnh liệt của hệ tư tưởng mác-xít về con người và giải phóng con người, giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại; đồng thời, góp phần quan trọng vào việc phát triển lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội nói chung và phát triển lý luận về QCN và hệ thống pháp luật quốc tế về QCN nói riêng. Với việc “suy rộng ra” từ QCN của mỗi cá nhân thành quyền tự quyết của mỗi quốc gia - dân tộc, được khẳng định trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 bất hủ, tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục bổ sung, làm sâu sắc thêm hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về QCN và giải phóng con người ở những điểm chủ yếu sau: 1- Cách tiếp cận duy vật và lịch sử về quyền con người - điều không thể có ở những học giả tư sản và bảo hoàng của thời kỳ phong kiến, vốn xem các QCN nảy sinh từ yếu tố tự nhiên thuần túy hay được thần thánh hóa; 2- Đấu tranh vì các quyền phổ thông đầu phiếu, bình đẳng về kinh tế và các quyền xã hội cơ bản khác. Các học giả tư sản thời kỳ này chỉ nhấn mạnh đến các quyền dân sự - chính trị, sự bình đẳng chính trị; trong khi đó, những người cộng sản đòi hỏi một thứ bình đẳng thực chất cho tất cả tầng lớp nhân dân lao động; 3- Quyền dân tộc tự quyết. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã cho thấy sự thống nhất chặt chẽ giữa các quyền và tự do cơ bản của cá nhân với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đem lại các quyền đích thực cho mọi người, đặc biệt là cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa mà những người cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa đấu tranh và khẳng định từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX là một thành tựu lớn lao làm thay đổi hệ thống pháp luật quốc tế về QCN. Chính cách tiếp cận duy vật, lịch sử về QCN đã đem lại cho QCN sức sống hiện thực trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa xã hội đã chỉ ra rằng, những bước tiến của con người về tự do, bình đẳng, dân chủ đích thực phải được đo bằng bước tiến về bảo đảm tự do, bình đẳng về kinh tế, các chuẩn mực phúc lợi và an sinh xã hội được dành cho tất cả mọi người, đặc biệt là nhân dân lao động.

Chủ nghĩa xã hội hiện thực, với hệ tư tưởng dẫn đường của các nhà mác-xít tiền bối, như C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin, và sau này là tư tưởng Hồ Chí Minh, đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc giải phóng về chính trị và kinh tế là hai thuộc tính cố hữu, vốn không thể tách rời của mọi cuộc giải phóng và cách mạng xã hội; các QCN không thể tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội trước hết là giải phóng chính trị để xác lập sự giải phóng thực sự về kinh tế. Chính vì vậy, trong gần hai thập niên tranh luận và đấu tranh (từ năm 1948 đến năm 1966) kể từ khi Tuyên ngôn thế giới về quyền con người ra đời năm 1948, các nước xã hội chủ nghĩa đã đưa được các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa vào hệ thống pháp luật quốc tế về nhân quyền. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa đã đưa ra ràng buộc pháp lý đối với tất cả các nhà nước, chính phủ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý trong việc bảo đảm và hiện thực hóa các QCN cơ bản trên thực định cho tất cả mọi người. Đó là các quyền có việc làm, quyền được giáo dục, chăm sóc, chữa bệnh, được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, nghỉ ngơi, quyền có nhà ở, quyền có nước sạch, quyền được vui chơi, giải trí, quyền được hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa...

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong quá trình hoạt động cách mạng, được cô đọng qua những danh ngôn: “Một dân tộc nô lệ không thể có con người tự do” và “nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập chẳng có nghĩa lý gì”. Giải phóng dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, ai cũng có cơm no, áo mặc, ai cũng được học hành,... luôn là lý tưởng và lẽ sống của Người. Đó cũng chính là lý tưởng và lẽ sống của dân tộc và nhân loại. Tuyên ngôn Độc lập là sự kết tinh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao không chỉ về tính nhân văn sâu sắc, giá trị đạo lý và chính trị to lớn đối với các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động trên toàn thế giới, mà còn ở tính khoa học - pháp lý chặt chẽ, sáng tạo, là phương pháp luận đúng đắn về giải phóng dân tộc, giải phóng con người, hiện thực hóa các quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người. Tư tưởng ấy đã, đang và sẽ soi đường cho sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước nhanh và bền vững, phấn đấu vì mục tiêu cao cả “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

5. Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Về pháp luật: Coi trọng bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc

Trong các bản hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ đều ghi nhận và khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc. Hiến pháp năm 2013, bản hiến pháp đã nâng tầm chế định về quyền con người, quyền công dân, khi đề cập đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc, đã khẳng định: “Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5). “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16).

Nguyên tắc trên của Hiến pháp đã được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, được thể chế và cụ thể hóa trong các văn bản luật: Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Quốc tịch, Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật Lao động; Luật Giáo dục; Luật Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.  

Bên cạnh đó, các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc còn được thể chế hóa bằng chế định về Hội đồng Dân tộc, với nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Trong Chính phủ có một cơ quan cấp bộ là Uỷ ban Dân tộc, chuyên trách công tác dân tộc.

Với quan điểm mọi công dân đều được bảo đảm quyền tham gia hệ thống chính trị, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, những năm gần đây tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào bộ máy chính trị ngày càng tăng. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số luôn chiếm tỷ lệ cao so với tỷ lệ dân số. Trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội liên tiếp, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm từ 15,6% đến 17,27%, cao hơn tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên tổng số dân là 14,35%. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 là 18%, cấp huyện là 20%, cấp xã là 22,5%.

Về kinh tế - xã hội: Dành nhiều ưu tiên hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội

Với đặc điểm cư trú phân tán, xen kẽ, tập trung chủ yếu ở các vùng núi, đặc biệt là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, trình độ phát triển còn thấp so với mặt bằng chung cả nước. Để hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện quyền bình đẳng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, những năm qua, Nhà nước đã dành nhiều ưu tiên trong triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 

Nhiều chương trình đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực như: Chương trình hành động 122 của Chính phủ về Công tác Dân tộc; Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Giảm nghèo bền vững; Chương trình 135 (giai đoạn 2) về Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa; các chính sách và chương trình ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết đất sản xuất và đất ở (Quyết định 132); hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống cho đồng bào nghèo thuộc dân tộc thiểu số (Quyết định 134); ưu đãi thuế nông nghiệp và thuế lưu thông hàng hoá, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, trợ giá các mặt hàng thiết yếu cho đồng bào dân tộc như muối ăn, thuốc chữa bệnh, phân bón, giấy viết, chính sách phát triển rừng, bảo vệ môi trường sống miền núi (Chương trình 327); chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số…

Về văn hóa – giáo dục: Bảo đảm quyền và hỗ trợ đồng bào thiểu số gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn là một bộ phận cấu thành quan trọng, thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc là chủ trương nhất quán của Nhà nước Việt Nam, coi đó là cội nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và phát triển bền vững đất nước.  

Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Trên thực tế, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, mức thụ hưởng văn hóa được nâng cao. Nhiều nét văn hóa các dân tộc thiểu số được bảo tồn, phát triển, được công nhận là di sản văn hóa thế giới như: “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”, “Thánh địa Mỹ Sơn”, “Cao nguyên đá Đồng Văn”. Đến nay, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh, truyền hình bằng cả tiếng Việt và 26 thứ tiếng Dân tộc được phát sóng mở rộng tới các bản làng xa xôi.

Bên cạnh đó, công tác giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí ở vùng có đông người dân tộc thiểu số sinh sống cũng được quan tâm đẩy mạnh và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề; các loại hình trường nội trú, bán trú, dự bị đại học dân tộc tại vùng có đông dân tộc thiểu số đều đều được đầu tư xây dựng. Từ năm 2012, 100% xã đã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở, 95% trẻ em dân tộc thiểu số được đến trường.