Trong khi đó chỉ số giá tiêu dùng bình quân giai đoạn 2015- 2017 đạt mức bình quân dưới 4%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 2.109 USD/năm, năm 2016 đạt 2.215 USD/người, năm 2017 đạt 2.385 USD/ người.

1. Tác động của kinh tế đến quan hệ lao động

Biểu 1. Tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số giá tiêu dùng

Cơ cấu kinh tế của Việt Nam chuyển dịch theo hướng hiện đại, giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp. Năm 2016, tỷ trọng cơ cấu GDP trong ngành nông nghiệp đạt 16,32%, công nghiệp đạt 32,72% và dịch vụ đạt 40,92%; năm 2017, tỷ trọng cơ cấu GDP trong ngành nông nghiệp đạt 15,34%, công nghiệp đạt 33,34% và dịch vụ đạt 41,32%. Đã hình thành, phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển. Nguồn: Tổng cục thống kê

+ Số doanh nghiệp thành lập mới và đi vào hoạt động tăng nhanh, tính đến 01/01/2017, có 505.000 doanh nghiệp thực tế đang hoạt động tăng 55,6% so với tổng điều tra năm 2012, bình quân hàng năm thời kỳ 2012-2017 tăng 9,2%. Trong đó doanh nghiệp ngoài nhà nước có gần 500.000 doanh nghiệp, giai đoạn 2012-2017, mỗi năm tăng bình quân 8,7%; doanh nghiệp FDI có trên 14.000 doanh nghiệp, bình quân hàng năm tăng 9,2%; doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động chỉ còn 2.701 doanh nghiệp, giảm 18,3%. Doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 74%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 24,1%, doanh nghiệp lớn chỉ chiếm 1,9% tổng số doanh nghiệp.

Tại thời điểm 01/01/2017 có 13.500 hợp tác xã, thu hút 206.000 lao động, trong đó hoạt động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 51%, dịch vụ chiếm 29,5%, công nghiệp xây dựng chiếm 19,5% số lượng hợp tác xã.

+ Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2017 là 54,8 triệu người, chiếm 58,48% dân số, tăng 4,7% so với năm 2016. Trong đó lao động nữ chiếm 48,1%, lao động nam chiếm 51,9%; lao động thuộc khu vực thành thị chiếm 32,2%, khu vực nông thôn chiếm 67,8%.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước năm 2017 là 48,2 triệu người, trong đó lao động nam chiếm 54,1%, lao động nữ chiếm 45,9%; lao động thuộc khu vực thành thị chiếm 33,4%, khu vực nông thôn chiếm 66,6%.

Lực lượng lao động năm 2012, làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp là 47,5%, công nghiệp là 21,1%, dịch vụ là 31,4%; năm 2017 tương ứng các tỷ lệ trên là 40,3%, 25,7 % và 34%. Lao động qua đào tạo nghề năm 2017 đạt 56%, trong đó lao động được đào tạo có chứng chỉ đạt 22% so với tổng số lực lượng lao động. Nguồn: Tổng cục thống kê

Số người làm công hưởng lương đến 01/01/2017, khoảng 22,9 triệu người chiếm 42,7% so với tổng số lao động đang làm việc. Chia ra khu vực hành chính sự nghiệp kể cả lực lượng vũ trang 3,8 triệu người, lao động làm việc trong các doanh nghiệp 14 triệu người, lao động làm việc trong các hợp tác xã là 0,2 triệu người, lao động làm việc trong các cơ sở kinh doanh cá thể là 8,7 triệu người.

Biểu 4. Lực lượng lao động và lao động làm công ăn lương

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2017 là 2,24%, trong đó khu vực thành thị là 3,18%, khu vực nông thôn là 1,78%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2017 là 7,51%, trong đó khu vực thành thị là 11,75%, khu vực nông thôn là 5,87%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ

Báo cáo Quan hệ lao động tuổi lao động năm 2017 là 1,63%, trong đó khu vực thành thị là 0,85%, khu vực nông thôn là 2,07%.

Cung cầu lao động vẫn mất cân đối, cung luôn nhiều hơn cầu, lao động thất nghiệp tuy có giảm nhưng số người thất nghiệp còn lớn.

+ Năng suất lao động: Trong những năm qua, năng suất lao động của Việt Nam có tăng lên đáng kể, giai đoạn 2010-2017, tốc độ tăng năng suất lao động bình quân là 4,7%, riêng năm 2017 tăng 6% so với năm 2016.

Tuy nhiên so với các nước trong khu vực, năng suất lao động Việt Nam còn thấp và khoảng cách chênh lệch ngày càng nới rộng. Tính theo sức mua tương đương năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7,0% của Singapore; 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của Indonesia; 56,7% của Philippines và bằng 87,4% của Lào. Đáng chú ý là chênh lệch về năng suất lao động giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng.

Biểu 5. Năng suất lao động xã hội ở Việt Nam

+ Năng lực cạnh tranh: theo công bố báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2017- 2018 của Diễn đàn Kinh tế thế giới thì điểm năng lực cạnh tranh của Việt Nam đạt 4,4/7 điểm, nhảy lên bậc 55/137 nền kinh tế. Khả năng cạnh tranh của Việt Nam chủ yếu dựa vào quy mô thị trường; tính hiệu quả của thị trường lao động tiếp tục được cải thiện; tăng trưởng của cả nước vẫn được duy trì mạnh mẽ bởi xuất khẩu mạnh mẽ giúp Việt Nam tiến lên phía trước.

+ Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã và đang tạo ra nhiều nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ hơn dòng di cư từ nông thôn ra thành phố, khu công nghiệp.

Theo Báo cáo điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2015 thì có 79,1% người di cư có nguồn gốc xuất thân từ nông thôn. Trong đó vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Hồng là 2 vùng dẫn đầu về mức đô thị hóa, cũng là hai vùng có mức nhập cư cao nhất cả nước. Tỷ lệ nữ trong tổng số người di cư 15-59 chiếm 52,4%. Lý do chính cho hiện tượng gia tăng số lượng và tỷ lệ nữ giới di cư do sự giảm cầu lao động (có lẽ là nhu cầu lao động) trong các hoạt động nông nghiệp tại nông thôn và gia tăng các cơ hội việc làm cho phụ nữ tại các thành phố và các khu công nghiệp.

Từ tình hình kinh tế xã hội nêu trên cho thấy kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, số doanh nghiệp tăng nhanh, chất lượng nguồn lực lao động từng bước được nâng lên, người sử dụng lao động bình quân giai đoạn 2010-2017 tăng, việc làm của người lao động được bảo đảm, chất lượng việc làm ngày càng tăng, thu nhập và đời sống của NLĐ đã được cải thiện một bước. Đó là những tiền đề quan trọng để cải thiện và phát triển quan hệ lao động.

Tuy nhiên, người sử dụng lao động của Việt Nam vẫn thấp nhiều so với các nước trong khu vực, thị trường lao động mất cân đối giữa cung và cầu, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp; doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ lệ lớn, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn thấp, dịch chuyển lao động ở mức độ cao đã tác động tiêu cực quan hệ lao động.

2. Các yếu tố trong nước tác động đến quan hệ lao động hiện nay

- Kinh tế trong nước tiếp tục ổn định và phát triển trong nhiều năm tới, theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, kinh tế Việt Nam năm 2018 có khả năng đạt mức tăng trưởng 6,9%, chỉ số tăng giá tiêu dùng giữ ở mức dưới 4%; Chính phủ đã và đang triển khai nhiều giải pháp cải thiện môi trường cạnh tranh quốc gia, kiến tạo cho phong trào khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp, phấn đấu đến năm 2020 có 01 triệu doanh nghiệp được thành lập

- Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ tư Khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó đề ra chủ trương hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức và quản lý và bảo đảm sự ra đời, hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phù hợp với quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, kiện toàn các công cụ, biện pháp quản lý nhằm tạo điều kiện để tổ chức này hoạt động thuận lợi, lành mạnh theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với các nguyên tắc của ILO, đồng thời giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

- Nghị quyết số 27-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp. Theo đó chính sách tiền lương và trả lương cho người lao động do doanh nghiệp quyết định trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động, nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp.

- Ngày 22/3/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó đặt ra mục tiêu: Đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp; tỉ trọng công nghiệp trong GDP đạt trên 40%, tốc độ tăng năng

Báo cáo Quan hệ lao động suất lao động công nghiệp đạt bình quân 7,5%/năm, tỉ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đạt trên 70%.

- Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục gia tăng cả về số lượng dự án và quy mô và nguồn lực đầu tư, đặc biệt coi trọng thu hút các dự án có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao.

3. Các yếu tố bên ngoài tác động đến quan hệ lao động

- Việt Nam đã và đang tham gia hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt Việt Nam đã trở thành thành viên của cộng đồng ASEAN, tham gia ký kết hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP, ký kết hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với EU, đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện các cam kết theo hiệp định đã được ký kết, trong đó có nội dung về lao động theo chuẩn mực quốc tế.

- Cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật công nghiệp lần thứ tư trên thế giới phát triển nhanh chóng, trong đó có Việt Nam đã làm thay đổi rất lớn đến quá trình tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, phân công lao động, có những tác động không nhỏ đến năng suất lao động, quan hệ lao động và việc làm.

- Là thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), cùng với việc tham gia các Hiệp định thương mại thế hệ mới, Việt Nam có trách nhiệm tuân thủ và thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Giai đoạn 2016-2020 Chính phủ đã đề ra chương trình kế hoạch nghiên cứu và phê chuẩn các công ước cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế.

4. Thời cơ tác động đến quan hệ lao động.

- Nhiều quan điểm mới của Đảng, Chính phủ về định hướng phát triển kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo nên sự ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô, phát triển doanh nghiệp, tạo ra nhiều việc làm mới, nâng cao hiệu quả việc làm, thúc đẩy thị trường lao động phát triển, từng bước cân đối giữa cung và cầu lao động làm tiền đề để phát triển quan hệ lao động.

- Cạnh tranh ngày càng gia tăng, cùng với thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra động lực thúc đẩy tăng NSLĐ, làm tiền đề và điều kiện để tăng tiền lương, thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động, cải thiện mối quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động.

- Khi quyền tham gia tổ chức của người lao động được bảo đảm, người lao động có quyền lựa chọn cho mình một tổ chức đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích của mình tốt nhất, thông qua thực hiện tốt cơ chế đối thoại, thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể, đây là nền tảng để duy trì quan hệ lao động ổn định và phát triển.

5. Thách thức tác động đến quan hệ lao động

- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới phát triển nhanh chóng, trong đó có Việt Nam đang làm thay đổi mô hình quản trị nhân sự và mô hình quan hệ lao động, tác động rất lớn đến quan hệ lao động tại nơi làm việc.

- Khi quyền tham gia tổ chức của người lao động được thực thi, nhiều tổ chức khác nhau của người lao động được thành lập trong một doanh nghiệp, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn, xung đột giữa các tổ chức với nhau tác động tiêu cực đến quan hệ lao động tại doanh nghiệp.

- Tham gia vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và giữa các quốc gia gia tăng, doanh nghiệp buộc phải tìm mọi biện pháp để cắt giảm chi phí, trong đó có chi phí lao động, giảm việc làm đã tác động trực tiếp đến quan hệ lao động.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực pháp luật lao động, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật MInh Khuê