1. Sự ra đời của Tổ chức Liên hợp quốc

Tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế liên chính phủ không thuộc cơ cấu của Liên hợp quốc, hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá giáo dục, y tế và lĩnh vực liên quan khác nhưng có quan hệ chặt chẽ với Liên hợp quốc trên cơ sở điều ước quốc tế được kí kết giữa Liên hợp quốc với tổ chức quốc tế đó.

Liên Hợp Quốc chính thức ra đời vào ngày 24/10/1945 khi Hiến chương Liên Hợp Quốc được Trung quốc, Pháp, Liên Xô, Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa kỳ và đa số các quốc gia ký trước đó phê chuẩn. Tên gọi "Liên Hợp Quốc" đã được Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt sáng lập ra và được sử dụng lần đầu tiên trong "Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc" vào ngày 1/1/1942, trong đó 26 quốc gia đã khẳng định cam kết tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại các nước thuộc phe phát xít.

Việc Liên Hợp Quốc ra đời là một sự kiện quan trọng và là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau, như: vai trò kém hiệu quả của Hội Quốc Liên trong việc giữ gìn hoà bình, an ninh quốc tế, sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai cùng những hậu quả thảm khốc đối với loài người và nỗ lực lớn lao của các nước trong việc thiết lập một thể chế toàn cầu có vai trò hiệu quả hơn đối với hoà bình và an ninh quốc tế.
Sự thất bại của Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hợp Quốc) đã đặt ra yêu cầu phải thiết lập một thể chế đa phương hữu hiệu có tính toàn cầu, nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Trong một thời gian dài, hệ thống an ninh tập thể của Hội Quốc Liên tỏ ra không hiệu quả vì không được sự quan tâm ủng hộ của các cường quốc. Những nỗi kinh hoàng của Chiến tranh thế giới thứ nhất chưa đủ sức thuyết phục các quốc gia hiểu rằng quyền lợi hoà bình của họ đòi hỏi cần có một trật tự quốc tế với các quyền lợi quốc gia truyền thống làm ưu tiên hàng đầu. Hội Quốc Liên trở thành một thể chế cứng nhắc, không thể hiện được chức năng dàn xếp hoặc thiết lập các liên minh năng động, nhằm ngăn chặn các hoạt động bành trướng quyền lực của một số cường quốc.

Với ý định chuẩn bị cho thời kỳ hậu chiến, nhằm loại trừ khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba và bảo đảm một thế cân bằng mới trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh, ba cường quốc chính của phe Đồng minh - Anh, Mỹ và Liên Xô - đã tiến hành hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng tại Tê-hê-ran (tháng 11/1943) và I-an-ta (tháng 2/1945). Nội dung trao đổi chính giữa Trớc-trin, Xta-lin và Ru-dơ-ven bao gồm số phận châu Âu và tương lai của Liên Hợp Quốc. Việc Liên Xô tán thành thiết lập Tổ chức Liên Hợp Quốc tại Hội nghị I-an-ta mở ra khả năng hợp tác giữa các nước đồng minh trong việc xây dựng một trật tự thế giới mới sau chiến tranh. Tại I-an-ta, ba cường quốc trên đã thống nhất với nhau về một số điểm then chốt trong việc thiết lập tổ chức Liên Hợp Quốc: chấp nhận ghế thành viên riêng rẽ của U-cờ-rai-na và Bạch Nga (nay là Bê-la-rút), dành quyền phủ quyết cho các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, Liên Hợp Quốc có quyền giám sát việc tạo dựng trật tự châu Âu. Đến Hội nghị Pốt-xđam từ 17/7 đến 2/8/1945, ba cường quốc (thực chất chủ yếu là Mỹ và Liên Xô, vì Anh đã bị suy yếu) thoả thuận thành lập cơ chế để giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, như vấn đề bồi thường chiến tranh của Đức và xác định lại biên giới các quốc gia. Hội đồng Ngoại trưởng 5 nước gồm Nga, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc được thành lập. Trên cơ sở thoả thuận tại Hội nghị I-an-ta, đại biểu của 50 quốc gia đã tham dự Hội nghị Xan Phran-xít-xcô tháng 4/1945 và dự thảo Hiến chương Liên Hợp Quốc. Trên cơ sở Hiến chương, Tổ chức Liên Hợp Quốc đã chính thức được thành lập với sự tham gia của 51 quốc gia sáng lập. Sự ra đời của Liên Hợp Quốc đã chấm dứt hoàn toàn cơ chế cân bằng quyền lực giữa các cường quốc châu Âu dựa trên cơ sở của Hội nghị Viên năm 1815. Cân bằng quyền lực trên cơ sở Liên Hợp Quốc là thế cân bằng linh hoạt dựa trên tương tác trong từng vấn đề giữa ba cạnh: hoà hợp quyền lực giữa 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an (còn gọi là P5), tập hợp các nước phương Tây/phát triển, tập hợp các nước Á–Phi–Mỹ La-tinh/đang phát triển, trong đó tiếng nói của các nước P5 có trọng lượng đặc biệt.

2. Mục đích hoạt động của Liên hợp quốc

Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, các quốc gia sáng lập đã quyết tâm thiết lập Liên Hợp Quốc thành một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm một nền hoà bình và trật tự thế giới bền vững. Theo Điều 1 của Hiến chương, Liên Hợp Quốc được thành lập nhằm 4 mục tiêu: (1) Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế; (2) Thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết; (3) Thực hiện hợp tác quốc tế thông qua giải quyết các vấn đề quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo trên cơ sở tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và tôn giáo; (4) Xây dựng Liên Hợp Quốc làm trung tâm điều hoà các nỗ lực quốc tế vì các mục tiêu chung.

Để bảo đảm Liên Hợp Quốc là một tổ chức quốc tế thực sự phục vụ mục tiêu chung của cộng đồng quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc cũng quy định các nguyên tắc hoạt động của Tổ chức Liên Hợp Quốc, các nguyên tắc chủ đạo gồm: (1) Bình đẳng về chủ quyền quốc gia; (2) Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị quốc gia; (3) Cấm đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; (4) Không can thiệp vào công việc nội bộ các nước; (5) Tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế và luật pháp quốc tế; (6) Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình.

Các mục tiêu và nguyên tắc hoạt động trên của Liên Hợp Quốc mang tính bao quát, phản ánh mối quan tâm toàn diện của các quốc gia. Các quan tâm ưu tiên này thay đổi tuỳ theo sự chuyển biến cán cân lực lượng chính trị bên trong tổ chức này. Thời gian đầu khi mới ra đời, cùng với sự tăng vọt về số lượng thành viên, Liên Hợp Quốc tập trung vào các vấn đề phi thực dân hoá, quyền tự quyết dân tộc và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apácthai. Trong thời kỳ gần đây Liên Hợp Quốc ngày càng quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề kinh tế và phát triển. Hoạt động của Liên Hợp Quốc trong gần 60 năm qua cho thấy trọng tâm chính của Liên Hợp Quốc là duy trì hòa bình an ninh quốc tế và giúp đỡ sự nghiệp phát triển của các quốc gia thành viên.

Đặc điểm bao trùm của Liên Hợp Quốc là tổ chức này không phải là một nhà nước siêu quốc gia. Liên Hợp Quốc là tổ chức đa phương toàn cầu đầu tiên có những hoạt động thực chất và đã có nhiều cố gắng trong việc phối hợp và điều tiết các mối quan hệ giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền bình đẳng của các quốc gia. Theo Điều 2 mục 7 của Hiến Chương, Liên Lợp Quốc không được can thiệp vào các vấn đề thuộc quyền tài phán nội bộ của các nước. Tất cả các quốc gia tham gia Liên Hợp Quốc theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền. Nguyên tắc này được phản ánh triệt để nhất trong cơ chế tham gia bỏ phiếu các quyết định và nghị quyết tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc (các quốc gia lớn nhỏ đều có một phiếu).

Một đặc điểm nổi bật khác của Liên Hợp Quốc là tổ chức này phản ánh sự dàn xếp và cân bằng quyền lực giữa các cường quốc thắng trận. Thực tế này được thể hiện trong cơ chế hoạt động của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc - cơ quan chấp hành có thực quyền nhất của Liên Hợp Quốc và đảm nhiệm trách nhiệm hàng đầu của Liên Hợp Quốc là duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Chỉ các quyết định của HĐBA mới có tính cưỡng chế thực hiện. Các nghị quyết tại các cơ quan chính khác của Liên Hợp Quốc như Đại hội đồng, Hội đồng Kinh tế–Xã hội, Hội đồng Quản thác, và cả Toà án Quốc tế chỉ có tính khuyến nghị, đạo lý và tạo sức ép dư luận. Để bảo đảm lợi ích và thu hút sự tham gia của cho các cường quốc, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc là cơ quan duy nhất dành cho 5 cường quốc quyền phủ quyết (veto) khi thông qua các nghị quyết, quyết định của Hội đồng. Quyền hạn của Hội đồng Bảo an tập trung vào hai lĩnh vực hoạt động chính là giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế và tiến hành các biện pháp cưỡng chế.

So với Hội Quốc Liên, Liên Hợp Quốc chứng tỏ đầy đủ hơn tính chất toàn cầu (thành phần gồm hầu hết các quốc gia độc lập trên mọi châu lục) và đặc biệt là tính toàn diện của nó: chương trình nghị sự không bó hẹp vào vấn đề duy trì hoà bình, an ninh, mà bao gồm cả việc thúc đẩy hợp tác vì phát triển kinh tế–xã hội của cộng đồng các dân tộc; bản thân hệ thống Liên Hợp Quốc bao gồm hàng loạt cơ quan, chương trình, quỹ, tổ chức chuyên môn tập trung vào mọi lĩnh vực của đời sống các quốc gia và quan hệ quốc tế ngoài lĩnh vực chính trị - quốc phòng, từ tiền tệ đến nông nghiệp, văn hoá, khoa học–kỹ thuật...

Tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời thực sự có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị quốc tế trong gần 60 năm qua. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của các hoạt động ngoại giao đa phương hiện đại, một bước ngoặt quyết định trong lịch sử phát triển của nền ngoại giao đa phương nói chung. Tuy nhiên, sự ra đời của Liên Hợp Quốc và bản thân Hiến chương Liên Hợp Quốc tất nhiên chưa đủ để bảo đảm sự bình đẳng hoàn toàn và triệt để giữa các quốc gia lớn nhỏ. Sự đóng góp của Liên Hợp Quốc đối với hoà bình an ninh quốc tế trong gần 60 năm qua là rất đáng kể. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều vấn đề, nhiều sự kiện, Liên Hợp Quốc không thể hiện được vai trò của mình hoặc có thể nói Liên Hợp Quốc chưa làm tròn sứ mệnh của mình. Các siêu cường vẫn có vai trò lớn và nhiều khi giữ vai trò quyết định trong quá trình ra quyết định của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là cơ cấu và cơ chế hoạt động của Hội đồng Bảo an, Hiến chương Liên Hợp Quốc và các cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc.

3. Nguyên tắc hoạt động của Liên Hợp Quốc

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Liên hợp quốc được quy định tại Điều 2 Hiến chương bao gồm:

- Bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia thành viên.

- Các thành viên Liên hợp quốc phải thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ theo quy định của Hiến chương.

- Các thành viên của Liên hợp quốc phải giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hoà bình.

- Các thành viên của Liên hợp quốc phải từ bỏ đe dọa dùng vũ lực hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

- Các thành viên của Liên hợp quốc có nghĩa vụ giúp đỡ Liên hợp quốc trong mọi hành động của Liên hợp quốc.

- Để duy trì họà bình và an ninh quốc tế, Liên hợp quốc đảm bảo để các quốc gia không phải là thành viên Liên hợp quốc cũng hành động theo các nguyên tắc nêu trên.

- Liên hợp quốc không được phép can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia thành viên nào.

Những nguyên tắc của Liên hợp quốc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành cơ sở bảo đảm cho Liên hợp quốc thực hiện tốt vai ttò là trung tâm phối hợp hành động của các quốc gia vì sự hoà bình và hợp tác.

4. Bộ máy tổ chức của Liên hợp quốc

Đại hội đồng gồm tất cả các nước thành viên. Mỗi thành viên được bỏ một phiếu duy nhất. Hằng năm, Đại hội đồng sẽ nhóm họp ở trụ sở chính đặt tại New York trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12. Có thể có những hội nghị bất thường về các chủ đề riêng biệt như trật tự kinh tế thế giới mới, tài giảm binh bị… Đại Hội Đồng sử dụng 6 ngôn ngữ: Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc và Ảrập. Đại hội đồng hoạt động bằng “các khuyến cáo” được thông qua với đa số quá bán (riêng những vấn đề. Đại hội đồng cũng bỏ phiếu về ngân sách Liên Hợp Quốc.

─ Hội đồng Bảo An là cơ quan quan trọng nhất của Liên Hợp Quốc trong sứ mệnh bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới. Hội đồng bảo an gồm 11 thành viên, trong đó 5 là thành viên thường trực (Hoa Kì, Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Quốc) và 6 thành viên không thường trực có nhiệm kì hai năm và được bầu theo chế độ luân phiên 3 thành viên mới mỗi năm.

Đối với những vấn đề ít quan trọng, Hội đồng bảo an chỉ sử dụng quyền khuyến cáo giống như Đại hội đồng. Nhưng về những vấn đề quan trọng, Hội đồng bảo an có quyền đưa ra những biện pháp trừng phạt về ngoại giao, kinh tế hay quân sự. Một khi quyết định đã được Hội đồng bảo an thông qua, tất cả các nước thành viên buộc phải thi hành theo nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp .

Hội đồng bảo an biểu quyết theo đa số 7/11 (từ năm 1966 là 9/15). Đối với những vấn đề quan trọng, phải hội đủ 5 phiếu của các thành viên thường trực. Điều này có nghĩa là mỗi thành viên thường trực đều có quyền phủ quyết. Tuy nhiên, nếu là đương sự trong một vụ tranh chấp, thì nước thành viên thường trực đó không có quyền biểu quyết khi vấn đề được mang ra phán xét, nhưng được biểu quyết về biện pháp giải quyết vụ việc. Việc kết nạp hội viên mới của Liên Hợp Quốc phải thông qua Hội đồng bảo an, phải được sự nhất trí của 5 thành viên thường trực, trước khi được trình ra trước Đại hội đồng─ Hội đồng kinh tế – xã hội có nhiệm vụ xúc tiến sự hợp tác quốc tế về các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục… nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc. Hội đồng gồm 18 nước thành viên được Đại hội đồng bầu ra với nhiệm kì 3 năm theo chế độ luân phiên 6 thành viên mới mỗi năm.

Hội đồng bao gồm các ủy ban và ủy hội sau: Ủy ban Nhân quyền, Ủy hội Dân số, Ủy hội Kinh tế châu Âu, Ủy hội Kinh tế châu Á và Viễn Đông ; Ủy hội Kinh tế Mĩ latinh, Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF)…

Bên cạnh đó có các cơ quan chuyên môn quốc tế liên kết với LHQ thông qua Hội đồng Kinh tế – Xã hội: Ngân hàng quốc tế về Tái thiết và Phát triển (IBRD), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Lương Nông quốc tế (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO)…

— Tòa án quốc tế đặt trụ sở tại La Haye (Hà Lan) là cơ quan tư pháp của Liên Hợp Quốc có nhiệm vụ xét xử các vụ tranh chấp giữa các quốc gia.

Tòa án quốc tế gồm 15 thẩm phán độc lập, được các nước đề cử, được Hội đồng bảo an và Đại hội đồng tuyển chọn theo đa số quá bán tổng số các nước thành viên với nhiệm kì 9 năm. Cứ ba năm bầu lại 5 người (có thể tái cử). Tòa án đưa ra những bản án mang tính tư vấn, nhưng cũng có thể mang tính chất cưỡng chế, nếu các quốc gia thành viên đã chấp thuận thẩm quyền của nó.

Sự thành lập Tổ chức Liên Hợp Quốc là một bước tiến của nhân loại trong sự nghiệp bảo vệ hoà bình và an ninh thế giới, và phát triển sự hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, trong một thế giới mà trình độ phát triển và sức mạnh của các quốc gia còn không đồng đều, nguyên tắc “chủ quyền bình đẳng” giữa các thành viên Liên Hợp Quốc chỉ có ý nghĩa tương đối. Các cường quốc luôn tạo được ảnh hưởng lớn ở Liên Hợp Quốc, nơi ưu thế vượt trội thuộc về hai siêu cường Hoa Kì và Liên Xô. Sự đối đầu giữa hai siêu cường sẽ biến Liên Hợp Quốc trở thành vũ đài đấu tranh giữa hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa trong gần nửa thế kỉ.

5. Hiến chương Liên hợp quốc là gì?

Hiến chương ở một góc độ nào đó có thể xem là điều ước quốc tế.

Điều ước quốc tế được kí ngày 26/6/1945 tại thành phố Xan Franxixcô và có hiệu lực từ ngày 24.10.1945, điều chỉnh mốc quan hệ giữa các quốc gia thành viên nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, tăng cường hợp tác quốc tế.

Hiến chương bao gồm 19 chương với 111 điều quy định việc thành lập Liên hợp quốc, tuyên bố mục đích, tôn chỉ, xác lập cơ cấu tổ chức và các nguyên tắc hoạt động của Liên biệt về hình thức so với các luật cơ bản, có cùng cấp độ hiệu lực pháp lí với các đạo luật và có thể bị sửa đổi bởi các đạo luật thường.

Khái niệm hiến pháp là cơ sở để xây dựng các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, được cụ thể hóa, chỉ tiết hóa bằng các văn bản pháp quy. Mọi văn bản pháp luật khác (trong hệ thống pháp luật của quốc gia) đều phải phù hợp với Hiến pháp

Luật Minh KHuê (sưu tầm & biên tập)