1. Tư vấn mức bồi thường và xử lý hình sự tội cố ý gây thương tích?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có gây thương tích cho người khác, chưa xác định được tỉ lệ thương tật. Người ta mất một ngón út và ngón áp út còn lại 1,5 đốt...bàn tay trái. Hiện nay, hai bên gia đình đang thỏa thuận. Gia đình bên ấy đòi bồi thường 200 triệu chưa kể thuốc men. Vậy xin hỏi luật sư mức bồi thường như vậy có hợp lý không? Nếu đưa ra pháp luật xử lý thì tôi bị xử theo mức án như thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.T

>> Xem thêm:  Thời gian giải quyết vụ án hình sự là bao lâu theo quy định của pháp luật hiện hành ?

Tư vấn mức bồi thường và xử lý hình sự tội cố ý gây thương tích ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về mức hình phạt:

Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

..."

Theo như quy định trên, thì khi gây thương tích cho người khác với tỉ lệ thương tật dưới 11% nhưng có một trong các tình tiết từ điểm a đến điểm k của điều luật thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì theo như bạn trình bày, người bị hại chưa được xác định tỉ lệ thương tật nên chúng tôi không thể xác định được chính xác mức độ nghiêm trọng trong hành vi mà bạn phạm phải. Tuy nhiên, việc bạn làm cho người đó bị mất hẳn ngón út và mất 1,5 đốt tay ngón áp út thì mặc dù trong trường hợp này tỉ lệ thương tật là dưới 11% nhưng bạn đã để lại cố tật cho nạn nhân, theo như trường hợp tại điểm b khoản 1 Điều luật trên.

Như vậy, trước hết bạn cần yêu cầu nạn nhân xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu, nếu dưới 11% thì bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Còn trong trường hợp nạn nhân có tỉ lệ thương tật từ 11% đến 30% thì bạn có thể sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, với hành vi cố ý gây thương tích của bạn mà tỉ lệ thương tật của nạn nhân dưới 11% thì bạn sẽ chỉ bị khởi tố khi có đơn yêu cầu của nạn nhân, còn với trường hợp tỷ lệ thương tật của nạn nhân là từ 11% đến dưới 30% thì bạn sẽ bị khởi tố ngay cả khi nạn nhân không có yêu cầu.

Tuy nhiên, việc bồi thường thiệt hại cho nạn nhân sẽ là một trong những căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bạn. Nếu tỷ lệ thương tật của nạn nhân dưới 11% thì khi có thể thỏa thuận với nạn nhân, bạn sẽ không bị khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, về mức bồi thường thiệt hại:

Vì bạn trình bày không cụ thể về trường hợp của bạn, như nghề nghiệp của nạn nhân trước khi bị thiệt hại, mức lương cụ thể là bao nhiêu? Thời gian điều trị người đó có cần người chăm sóc hay không? Vì vậy, chúng tôi chỉ có thể tư vấn cho bạn dựa trên các quy định của pháp luật để bạn có thể tự ước lượng mức bồi thường sao cho hợp lý.

Theo quy định tại Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại;

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị;

- Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc;

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Theo như quy định này thì về việc bồi thường, ngoài chi phí thuốc men ra, bạn còn phải bồi thường cho nạn nhân dựa trên thu nhập thực tế bị mất của họ khi họ bị thiệt hại về sức khỏe như vậy. Khoản này được xác định: trước khi bị thiệt hại, nạn nhân có đi làm không? Mức lương cụ thể của người ấy là bao nhiêu? Nếu họ có mức lương không đều hàng tháng, thì sẽ tính trung bình dựa trên 06 tháng liền kề trước đó. Trường hợp này, bạn sẽ phải bồi thường trong cả khoảng thời gian người đó điều trị dựa trên mức lương đã xác định như trên. Hơn nữa, trong thời gian điều trị, nạn nhân cần có người chăm sóc nữa thì bạn còn phải trả chi phí trong thời gian người chăm sóc ấy bị mất thu nhập thực tế của họ (như người đó phải nghỉ việc để chăm sóc cho nạn nhân, chi phí đi lại...) và cả khoản tiền bù đắp về tổn thất tinh thần cho nạn nhân.

Như vậy, trường hợp này bạn cần phải thỏa thuận lại với gia đình nạn nhân về mức bồi thường thiệt hại sao cho hợp lý dựa trên các khoản chi phí cần phải bồi thường như trên. Việc này là vô cùng quan trọng, nó sẽ quyết định bạn bị khởi tố hay không, hay bạn sẽ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bao nhiêu.

>> Tham khảo ngay nội dung: Mức phạt hành chính với tội cố ý gây thương tích?

>> Xem thêm:  Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhân hay công ty ?

2. Trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản, cố ý gây thương tích thì bị xử lý như thế?

Tài sản trộm cắp ở mức bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Thời hạn chấp hành phạt từ đối với các tội này là bao lâu? Trình tự thủ tục thời hiệu khởi kiện. Vấn đề cố ý gây thương tích. Các vấn đề liên quan đến trộm cắp, cướp giật tài sản.

Trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản, cố ý gây thương tích thì bị xử lý như thế ?

Luật sư hướng dẫn về mức hình phạt với tội cố ý gây thương tích, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Hành vi của A la tội trộm cắp tài sản chuyển hóa thành tội cướp tài sản vì: A đã dùng vũ lực với B theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi dùng vũ lực là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, dùng sức mạnh vật chất tác động vào cơ thể của nạn nhân là con người như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm, chém…. để chiếm đoạt tài sản. Hành vi này có thể khiến nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe hoặc tử vong, nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể.

- Tội danh của A trong trường hợp không thay đổi nhưng phạm tội với tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 4 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

"4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp."

- Trong trường hợp này A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Theo Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

>> Tham khảo thêm nội dung liên quan: Tư vấn về tội cố ý gây thương tích và tình tiết giảm nhẹ?

>> Xem thêm:  Định tội danh và nhận định tố tụng ?

3. Cố ý gây thương tích mà không có lý do?

Kính chào luật sư, mong luật sư tư vấn giúp em vấn đề sau: Vừa qua em cùng 3 người bạn về nhà chị ba của nhỏ bạn để chơi. Trong quá trình nhậu, em chỉ nói chuyện với 3 người bạn của em chứ chưa nói chuyện gì nhiều với mấy người khác. Một lúc sau em xuống nhà vệ sinh rửa mặt thì có bạn nữ ngồi chung bàn xuống nói là có chuyện muốn hỏi em.

Em trả lời là "ờ bạn hỏi đi", sau đó em bị bạn đó đánh túi bụi và nói là tại em nói chuyện khi dễ bạn ấy rồi do em nói sốc. Em la lên, mọi người vào can, sau đó em mới nói "mình đâu có nói gì bạn từ đầu tới giờ, mình chỉ nói chuyện với nhỏ bạn mình thôi". Rồi bạn ấy lấy con dao thái lan định đâm em thì chị kia lấy dao lại, bạn ấy tiếp tục dùng tay nắm tóc em và đánh vào đầu em. Em bỏ chạy và gọi công an 113 giúp. Vậy thưa luật sư trong tình huống của em thì xử lý theo đúng luật sẽ là như thế nào ạ? Em xin cảm ơn!

Người gửi: M.T

Cố ý gây thương tích mà không có lý do ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sự: 1900.6162

Trả lời:

Về việc người này có hành vi cố ý gây thương tích cho bạn, và thậm chí sử dụng dao để nhằm gây thương tích cho bạn theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, theo đó, hành vi của người này nếu gây ra thương tích cho bạn trên 11%, hoặc dưới 11% mà có thêm các tình tiết được nếu ở khoản 1 Điều 134 thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trường hợp không quá nghiêm trọng để phải chịu trách nhiệm hình sự thì sẽ phải chịu phạt hành chính, dựa theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì đối với hành vi đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Đồng thời, người này cũng có nghĩa vụ chịu các chi phí liên quan đến việc chữa trị của bạn nếu có.

>> Tham khảo thêm nội dung: Giải quyết hành vi cố ý gây thương tích như thế nào theo quy định pháp luật hình sự ?

>> Xem thêm:  Đã có đơn rút yêu cầu khởi tố thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa không?

4. Tư vấn xử lý đối với hành vi cố ý gây thương tích ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình bà A có cậu con trai tên là A, khi là sinh viên năm thứ 3, trong một buổi sinh nhật do mâu thuẫn với một đám bạn A đã dùng dao đâm bạn B, khiến cho B phải đi cấp cứu tại bệnh viện. Qua biên bản giám định của bệnh viện cho thấy thương tật của B là 20%.

Gia đình B tố giác hành vi của A với công an huyện. A bị truy tố và tạm giam. Gia đình A cho rằng, nếu thuê Luật sư thì A có thể trắng án. Vậy theo luật sư thì trường hợp trên như thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.T.D

Tư vấn xử lý đối với hành vi cố ý gây thương tích ?

Luật sư tư vấn về hành vi cố ý gây thương tích, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như nội dung thư mà bạn gửi cho chúng tôi, A đã có hành vi cố ý gây thương tích cho B với tỷ lệ thương tích là 20%. Với mức độ thương tích như vậy, A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo quy định Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

Về mức hình phạt cụ thể sẽ do thẩm phán quyết định dựa trên tình hình thực tế, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Luật sư có thể tham gia bào chữa để giảm nhẹ nhất mức hình phạt cho bị can, bị cáo những nếu hành vi của A đã cấu thành hành vi phạm tội theo quy định trên thì luật sư không thể giúp bị cáo trắng án được.

>> Xem thêm:  Chém đứt tay người khác bị xử phạt như thế nào ?

5. Tư vấn khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích?

Thưa luật sư, vào ngày 04/12/2018, anh tôi có được tên Liêm hẹn ra gần nhà để nói chuyện. Sau khi nói chuyện thì xảy ra cự cãi và tên Liêm đó dùng dao đâm nhiều nhát khiến anh tôi được bác sĩ chẩn đoán là bị tràn dịch màng phổi và nhiều vết thương khác nữa.

Đến ngày 08/01/2019, tôi yêu cầu cơ quan công an khởi tố vụ án và đến công an phường nhưng không thấy họ có động thái gì, trong khi tên Liêm thì đứng ngoài vòng pháp luật thách thức gia đình tôi. Giờ tôi không biết phải làm sao, mong luật sư tư vấn giúp trường hợp của tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời

Căn cứ theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, dựa trên kết quả giám định thương tật và các yếu tố khác sẽ xác định được có dấu hiệu của tội phạm không. Nếu có dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan điều tra mới tiến hành khởi tố vụ án hình sự và viện kiểm sát sẽ tiến hành truy tố bị can ra trước Tòa. Và việc xác định có dấu hiệu tội phạm phải qua quá trình điều tra, xác minh và đó là nhiệm vụ của cơ quan điều tra.

Tuy nhiên, nếu bạn báo công an phường mà công an không tiếp nhận và báo tin lên cơ quan điều tra, viện kiểm sát thì bạn có thể trực tiếp đến cơ quan điều tra cấp huyện, viện kiểm sát cấp huyện để tố giác tội phạm, bởi cơ quan điều tra, viện kiểm sát là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự theo Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

"Điều 154. Quyết định khởi tố vụ án hình sự

1. Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Tòa án phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp."

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Ném rác vào vườn nhà người khác có bị đi tù không?