1. Tội cướp giật tài sản bị phạt bao nhiêu năm tù?

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh trai tôi thực hiện hành vi giật túi xách của một người đi đường, công an xác định anh tội thuộc tội cướp giật tài sản vì tài sản trong túi xách được xác định là hơn 50 triệu đồng, anh tôi bị phạt 3 năm tù giam có đúng tội không, hình phạt như vậy có nặng quá không ?

Luật sư trả lời:

Các loại tội phạm không chỉ khác nhau về nguyên nhân thực hiện hành vi, cách thức thể hiện hành vi, công cụ phạm tội,… Mà chúng còn khác nhau về tính nguy hiểm cho xã hội hậu quả của hành vi đó gây ra. Chính do sự khác nhau đó mà vấn đề phân hóa và cá thể hóa hình phạt đã được đặt ra và coi là nguyên tắc của luật hình sự nước ta. Nguyên tắc này không chỉ có ý nghĩa trong việc áp dụng luật hình sự mà trước hết nó còn đòi hỏi phải có sự phân hóa trách nhiệm hình sự ngay trong luật và đó là cơ sở đẻ có thể cá thể cá thể hóa hình phạt trong thực tiễn áp dụng.

Về phân loại tội phạm, khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy him cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy him cho xã hội rất ln mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình."

Theo đó, các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội và cả dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí của hành vi phạm tội. Trong hai dấu hiệu phân biệt các nhóm tội phạm này với nhau, dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội ( nghĩa là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi ) quyết định dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí. Tuy nhiên, việc đánh giá mức đội nguy hiểm cho xã hội của hành vi như thế nào là không lớn, lớn, rất lớn và đặc biệt lớn lại mang nặng tính từu tượng, lý thuyết. Vì vậy, các nhà làm luật đã quy định việc phân loại tội phạm thành nhiều nhóm khác nhau căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm để giúp cho việc cá thể hóa hình phạt được xác định.

Để xác định loại tội phạm theo sự phân loại tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 chỉ dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt quy định cho tội phạm cần xác định, chứ không dựa vào mức án mà tòa án tuyên.

Trường hợp này anh của bạn cướp giật tài sản của người khác có giá trị hơn 50 triệu đồng. Hành vi phạm tội này của anh của bạn được quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm."

Như vậy, anh của bạn đã phạm tội tại điểm c Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năn 2017: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đến dưới hai trăm triệu đồng”. Khung hình phạt đối với tội cướp giật tài sản theo Khoản 2 Điều 171 là mười năm tù.

Theo đó, trong trường hợp này anh của bạn phạm tội cướp giật tài sản, đây là tội rất nghiêm trọng,với mức phạt như thế này không được gọi là quá nặng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

2. Cách giải quyết khi bị vu oan về tội cướp tài sản?

Cách giải quyết khi bị vu oan về tội cướp tài sản ?

Tư vấn pháp pháp luật luật trực tuyến , gọi: 1900.6162

Xin chào Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Mẹ tôi có cho 1 người hàng xóm vay 14tr , nhưng bà ta có ý định bỏ trốn không trả nợ. Tôi cùng em họ mình đã chặn bà ta ngoài đường để đòi số nợ nhưng bà ta ko chịu trả và báo công an phường kêu tôi và người em họ cướp xe bà, Nhưng khi về nhà bạn bà để làm việc thì bả là người chạy xe về .
Khi công an phường tới thì bà ta nói anh em tôi cướp xe bà. Lên phường giải quyết thì công an giữ xe bà ta và nói 2 bên giải quyết nợ nần xong lấy xe về , nhưng bà ta vẫn kiên quyết không trả và đòi kiện ra thành phố: tôi và người em họ cướp xe bà ta.Xin hỏi luật sư giờ vấn đề của tôi phải giải quyết như thế nào? Và tôi và người em của có có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Mong Luật sư giúp đỡ. Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Để có thể xác định một người có phạm tội cướp tài sản hay không, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xem xét hành vi của họ có đáp ứng các điều kiện trong cấu thành tội cướp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hay không. Cụ thể, khoản 1 Điều 168 BLHS quy định về cấu thành tội phạm cướp tài sản như sau:

- Một là, dùng vũ lực, hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được;

- Hai là, nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.

Trường hợp của bạn, như bạn nói là bạn chỉ chặn đường để đòi tiền chứ không có hành vi dùng vũ lực và cũng không có mục đích cướp tài sản thì không thể bị quy chụp vào tội cướp tài sản được.

Vì hành vi của bạn và em họ của bạn không cấu thành tội cướp tài sản nên người hàng xóm nợ tiền của mẹ bạn không thể kiện bạn với hành vi cướp tài sản được.

Mặt khác, đối với việc người hàng xóm này nợ tiền của mẹ bạn với số tiền 14 triệu đồng và có ý định không trả nợ, bạn có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc này cho gia đình bạn theo 2 con đường, là con đường dân sự và con đường hình sự. Nếu lựa chọn giải quyết theo con đường dân sự, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án yêu cầu người hàng xóm này trả nợ cho gia đình bạn. Nếu lựa chọn giải quyết theo con đường hình sự, bạn có thể làm đơn tố giác tội phạm gửi cơ quan công an về hành vi lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 BLHS.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

3. Mức án cho hành vi cướp tài sản?

Mức án cho hành vi cướp tài sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Có 1 trường hợp muốn hỏi ý kiến luật sư: "hôm đó người A đang ngủ thì người B rủ người A đi chơi, vì thấy mệt người A không muốn đi nên đã từ chối, người B năn nỉ mãi nên người A đồng ý và đã sang rước người B, người A cầm lái và đó là xe của người A.

Đang đi thì người B thấy có 1 người phụ nữ đang đi cùng đường, đtdđ đang để trong túi nhưng lòi ra ngoài nên bị người B để ý, người B nảy ý định muốn giật chiếc đt đo nên nói với người A hôm đó là sinh nhật của anh ta giật đt đoa để lấy tiền làm sinh nhật, trong phút giây ngắn ngủi không thể suy nghĩ được gì nên người A đã quay đầu xe lại ép sát người nữ kia để người B giật điện thoại, khi giật xong thì người bị người dân đuổi theo, bị dí rất lâu thì người A bị té nên người B chạy được, người A lấy xe chạy tiếp được quãng đường bị người dân đạp xe nên té nhưng trốn được, xe bị bắt.

Do người A bị té bị thươg khá nặg nên khi cog an mời làm việc gia đình có nói đợi người A khỏe sẽ tự thú, người B thì bỏ trốn. Người A là học sinh, vì bị té xe nên phải nghỉ học, gia đình không khá giả, vì bị bạn xúi dục nên đã làm bậy, người A tuy nghĩ học nhưng ở nhà phụ mẹ bán hàng, rất giỏi và siêng. Người B là người có tiên án tiền sự, không đi làm, hay quậy phá, không giúp gì cho gia đình, gia đình cũng không khá giả. Người A đang bị tạm giam, người B đang trốn, người A đã hợp tác với công an để bắt người B nhưng chưa bắt được." Theo luật sư thì Người A và B sẽ bị xử phạt như thế nào? Người A có thể giảm án hoặc hưởng án treo hay không?

Trả lời:

A, B sẽ bị xử phạt như thế nào ?

Thông qua những dữ liệu mà bạn cung cấp, chúng tôi nhận định A và B đã có hành vi cướp tài sản quy định tại điều 168 của BLHS. Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015; Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về tội cướp tại sản, cụ thể:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Căn cứ theo điều 17 của BLHS thì A và B là đồng phạm của nhau trong vụ án này: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Bạn có nhắc tới thông tin A đang là học sinh tuy nhiên chúng tôi không biết rõ độ tuổi cụ thể của A là bao nhiêu (độ tuổi có ảnh hưởng tới khả năng chịu TNHS quy định tại điều 12 của BLHS).

Hình phạt mà 2 người này sẽ phải chịu. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn một vài thông tin như sau. Điều 168 BLHS quy định:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Người A đã có những hành vi như tự thú, phối hợp với công an để truy bắt B nên căn cứ theo điểm r và t khoản 1 điều 51 của BLHS, đây sẽ là 2 tình tiết giảm nhẹ cho A. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, xét xử, cơ quan có thẩm quyền cũng có thể dựa vào các yếu tố như nhân thân hay hoàn cảnh phạm tội của A để xem xét tăng thêm tình tiết giảm nhẹ cho A. Với trường hợp của A, có thể sẽ được giảm án.

Người B có hành vi xúi giục A thực hiện hành vi cướp tài sản (Hành vi xúi giục người khác là hành vi của một người đã có những lời lẽ kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác làm những việc mà người xúi giục mong muốn, thường là việc không có lợi cho người bị xúi giục). Nếu, đối với trường hợp A chưa đủ 18 tuổi, căn cứ theo khoản o điều 52 BLHS thì đây là 1 tình tiết tăng nặng (xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội).

Việc A có được giảm án hay hưởng án treo hay không: theo điều 65 của BLHS và điều 2 của Nghị quyết s02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán về hướng dẫn về án treo thì: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Tuy quy định tại điều 168 BLHS thì tội cướp tài sản có mức phạt thấp nhất là 3 năm tù nhưng như chúng tôi đã nêu trên thì do chưa biết được độ tuổi chính xác cũng như giá trị của tài sản cướp được nên chúng tôi không thể có đánh giá chính xác về thời hạn tù của A. Như vậy, vấn đề A có được hưởng án treo hay không chúng tôi không khẳng định chắc chắn.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Xử lý thế nào khi bị mất xe và xác định giá trị bồi thường khi làm mất xe của người khác ?

4. Tư vấn định tội Cướp giật tài sản?

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Thưa luật sư , em có 1 tình huống nhờ luật sư giải đáp: Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản của người không quen biết (tài sản trị giá 49 triệu đồng) nhưng không bị phát hiện. Mười ngày sau, H lại phạm tội cướp giật tài sản bị phát hiện và Công an bắt giữ H.

Câu hỏi:

1. Giả định H thực hiện cả hai tội nêu trên khi mới 17 tuổi thì hình phạt của H có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù?

2.Giả định H bị xét xử 2 tội phạm nêu trên. Tội trộm cắp tài sản bị Tòa án tuyên phạt 3 năm cải tạo không giam giữ; tội cướp giật tài sản bị Tòa án tuyên phạt 15 năm tù thì hình phạt mà H còn phải chấp hành cho cả 2 tội này là bao nhiêu? Biết rằng H đã bị tạm giam 4 tháng về tội cướp giật tài sản.

3. Giả định H phạm tội cướp giật tài sản và tội trộm cắp như tình huống nêu trên thì H có khả năng được hưởng án treo không?

Trả lời:

1. Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Điều 12 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về Tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

"1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này."

Do vậy, Nếu H phạm tội tại thời điểm H 17 tuổi , H vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự với tội của mình.

2. Về tổng hợp hình phạt

Nếu H được tuyên 3 năm cải tạo không giam giữ và 15 năm tù giam, H đã chấp hành được 4 tháng tạm giam thì căn cứ vào điều 55 BLHS để tổng hợp hình phạt : 1 ngày tam giam, tạm giữ = 1 ngày tù , 3 ngày cải tạo không giam giữ = 1 ngày tù, thì H phải chấp hành 15 năm và 8 tháng tù giam .

"Điều 55. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

1. Đối với hình phạt chính:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác;

2. Đối với hình phạt bổ sung:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên."

Đồng thời, Điều 53 BLHS quy định về Tái phạm, tái phạm nguy hiểm thì:
- Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
- Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
+ Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
+ Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý.

3. Về việc được hưởng án treo

Nếu bị truy tố về cả 2 tội và hình phạt như trên (hơn 15 năm tù giam) thì theo điều 65 BLHS , H không được hưởng án treo bởi án treo là một hình thức miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện áp dụng với những tội phạm được tòa án tuyên không quá 3 năm tù giam.

Điều 65. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Tư vấn về thời hạn giải quyết tố cáo ?

5. Hình phạt về tội cướp tài sản ?

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Bạn trai tôi chơi thân quen với 1 người bạn gái là bạn bè nhiều năm. Hôm nọ do mâu thuẫn chị kia vay tiền có cãi nhau gì đó và 2 bên thách thức nhau do chị kia thách thức nên bạn tôi đã mang theo 1 con dao thái rau đi xe máy tới chỗ hẹn (nghĩ là có ng khác hỗ trợ) tới nơi 2 bên cãi vã và a bạn đã dùng dao chặt vào cây để bớt lời nhưng chi kia vẫn ko bớt lời lúc đó anh bạn có điện thoai của ng khác gọi và đặt dao lên yên xe để nghe điện thoại thì chị này đã cướp dao đi. Khi nghe xong điện thoại thi a bạn đuổi theo lấy dao vứt đi và đấm, đá chị nầy mấy cái. Cạnh đó có cành cây khô anh ta đá phải và cầm ném bên cạnh người chị tạ rồi ra xe thì thấy chiếc điện thoại của chị này rơi ra cách chỗ đánh chị kia khoảng 2m điện thoại trị giá 1,1tr đồng và nhặt bỏ vào túi và nói là đến xin lỗi rồi trả điện thoại sau đó nổ xe chạy về.
Sau đó, chị ta đã đến công an trong báo là anh ta dùng dao và gậy đánh và cướp điện thoại và a bạn bị bắt trong ngay hôm đó (chị này có bỏ tiền thuê nhờ c,an,đội phó đội hình sự ) cùng nhờ 1ng là nhà báo của báo công an can thiệp giúp để kiện, sau khi bị bắt và xử thi bạn tôi bị xử tội cướp tài sản khoản 1(3-7năm ) tù và kết luận là 3năm tù treo được hưởng khoan hồng và 5 năm thử thách vừa mới xử xong 5 ngày vậy tôi xin hỏi luật sư tội của bạn tôi có thể kháng cáo Ko? và có thể tránh tội cướp được ko vi bạn tôi đã 45 tuổi có gia đinh đàng hoàng tử tế kinh tê ko thiếu thốn đến mức phai đi cướp mà do bức xúc ko hiểu luật nên bị chi kia tố cáo và cáo buộc nên mới ra nông nỗi này xin luật sư tư vấn dùm ?
Tôi xin cảm ơn Luật sư.

Trả lời:

Điều 168 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định:

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Theo đó, tội cướp tài sản có các dấu hiệu cơ bản sau:

Về mặt chủ thể:

Người đầy đủ năng lực trách nhiệm hính sự (từ đủ 14 tuổi trở lên, không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình).

Về mặt khách thể: Các quan hệ về tài sản và quan hệ nhân thân.Khách thể bị xâm phạm trước là quan hệ nhân thân, thông qua đó người phạm tội xâm phạm khách thể là quan hệ tài sản.

Về mặt khách quan:

- Hành vi dùng vũ lực: Là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, dùng sức mạnh vật chất tác động vào cơ thể của nạn nhân là con người (như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm, chém….) để chiếm đoạt tài sản. Hành vi này có thể khiến nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe hoặc tử vong, nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể.

- Hành vi đe dọa sử dụng vũ lực ngay tức khắc: Là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì hành động vũ lực sẽ được thực hiện ngay (như dí dao vào cổ đe dọa người bị hại giao nộp tài sản nếu không sẽ bị đâm).

Lưu ý: Đe dọa dùng vũ lực là chưa dùng vũ lực, nếu người phạm tội vừa đe dọa, vừa sử dụng vũ lực với người bị hại thì vẫn bị coi là dùng vũ lực.

- Hành vi làm người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được: Là hành vi không dùng vũ lực, không đe dọa sử dụng vũ lực nhưng làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (như đánh thuốc mê người bị hại, khiến người bị hại không thể chống cự được và sau đó cướp tài sản)

* Hậu quả của tội phạm

- Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm

- Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về tính mạng thì cần phân biệt các trường hợp:

+) Người phạm tội giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội : tội giết người và tội cướp tài sản

+) Nếu người phạm tội không có ý định giết người mà chỉ có ý định cướp tài sản nhưng chẳng may nạn nhân bị chết thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản với tình tiết làm chết người

+) Nếu sau khi cướp tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà giết người để tẩu thoát thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự cả về tội giết người

- Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về sức khỏe thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản với tình tiết gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nếu bị hại có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên.

- Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về nhân phẩm, danh dự mà hành vi xâm phạm của người phạm tội không có liên quan gì đến mục đích chiếm đoạt thì ngoài tội cướp tài sản, người phạm tội còn bị truy cứu về các tội phạm tương ứng với hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm.

Về mặt chủ quan của tội phạm:

- Lỗi cố ý.

- Mục đích chiếm đoạt tài sản.

Theo như thông tin bạn cung cấp, hành vi của anh bạn kia không cấu thành tội cướp tài sản bởi không thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của tội này là nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, hành vi nhặt, giữ luôn điện thoại không chịu trả cho chị kia của anh bạn nên anh bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình như sau:

Điều 15: Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác:

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;
b) Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý;
c) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản;
d) Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;
đ) Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có;
e) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác.

Theo đó, anh bạn của bạn sẽ bị phạt tiền từ 2 triệu đến 5 triệu đồng cho hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác chứ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì anh có quyền kháng cáo đối với bản án của tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục kháng cáo được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 273. Thời hạn kháng cáo

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.

3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.

Theo đó, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được giao cho bị cáo hoặc được niêm yết với trường hợp bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, bạn của bạn có thể tiến hành kháng cáo. Đơn kháng cáo phải được gửi đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Hoặc có thể trình bày tại phiên tòa sơ thẩm về việc kháng cáo và Tòa phải lập thành văn bản theo quy định tại Điều 95 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự qua Email lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo ?