- 1. Các dấu hiệu cấu thành tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
- Chủ thể của tội phạm
- Khách thể của tội phạm
- Mặt khách quan của tội phạm
- Mặt chủ quan của tội phạm
- 2. Hình phạt tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
- 2.1 Khung hình phạt cơ bản và tăng nặng
- 2.2. Phân biệt với chế định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự
- 2.3. Phân biệt với thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
- 3. So sánh với Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 368 BLHS)
- Kết luận
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025) đã quy định cụ thể tại Điều 369 về Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội. Đây là một trong những tội phạm về chức vụ, có đối tượng tác động đặc biệt là hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc răn đe, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh những hành vi bao che, bỏ lọt tội phạm, đồng thời khẳng định nguyên tắc mọi người phạm tội đều phải bị xử lý theo pháp luật, không có ngoại lệ.
Không truy cứu trách nhiệm hình sự là việc chủ thể có thẩm quyền không tiến hành các hoạt động buộc tội và áp dụng các hình phạt đối với người thực hiện các hành vi cấu thành tội phạm theo quy định tại Bộ luật hình sự.
Người có tội là thuật ngữ được nhắc đến trong luật hình sự, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội. Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội được coi là tội phạm theo quy định tại Điều 369 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, được quy định tại Điều 369 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là một trong những tội danh quan trọng thuộc Chương XXIV, nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Vị trí này khẳng định bản chất của tội danh là hành vi trực tiếp chống lại nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam: "mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh".
Việc quy định tội danh này mang ý nghĩa sâu sắc, không chỉ nhằm đảm bảo sự đúng đắn, công bằng của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự từ điều tra, truy tố đến xét xử. Nó còn là công cụ pháp lý để bảo vệ uy tín, sự trong sạch của các cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, vốn là trụ cột của nền tư pháp quốc gia. Hơn nữa, tội danh này còn trực tiếp bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, ngăn chặn tình trạng bỏ lọt tội phạm, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là người tố giác, bị hại và nhân chứng, khỏi những nguy cơ bị trả thù hoặc xâm hại.
1. Các dấu hiệu cấu thành tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
Tội danh này được cấu thành bởi 04 yếu tố sau:
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này tương tự như chủ thể của tội phạm truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội bao gồm: Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra; Viện kiểm sát. Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Điều tra viên; kiểm sát viên.
Ngoài những người trên, đối với người phạm tội ít nghiêm trọng còn có thể còn có người có thẩm quyền của Bộ đội biên phòng, Hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư và cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đây là đặc điểm khác với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, vì truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội thì chỉ những người có thẩm quyền như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên; Kiểm sát viên mới thực hiện được, nhưng đối với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội thì không chỉ những người trên, mà còn cả những người có trách nhiệm trong việc phát hiện, bắt giữ tội phạm nhưng cố tình bỏ lọt tội phạm, bởi vì nếu không bắt giữu, không khởi tố vụ án thì những người có thẩm quyền sẽ không khởi tố bị can được.
Cũng như đối với chủ thể của tội truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người không có tội không bao gồm Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân.
Trường hợp Điều tra viên, Kiểm sát viên cố tình không truy cứu trách nhiệm người có tội theo mệnh lệnh của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, mặc dù trước đó đã báo cáo, đề xuất ý kiến "phải khởi tố, phải kết luận điều tra, phải truy tố" nhưng không có ý kiến phản bác, bảo lưu hoặc báo cáo lên cấp trên mà vẫn đồng tình với quyết định của cấp trên thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội". Tuy nhiên, khi xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này thì cần xem xét giữa họ với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; Viện trưởng; Phó viện trưởng viện kiểm sát. Nếu đó là mối quan hệ quá lệ thuộc, mà điều tra viên hoặc kiểm không còn cách nào khác buộc phải chấp hành thì được coi là phạm tội do bị ép buộc, cưỡng bức và được xem xét nhẹ miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.
Trường hợp Điều tra viên, Kiểm sát viên cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội theo quyết định của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; Viện trưởng; Phó viện trưởng Viện kiểm sát, nhưng trước đó đã đề xuất ý kiến "phải khởi tố, phải kết luận điều tra, phải truy tố" và bảo lưu ý kiếm, đồng thời báo cáo lên Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên hoặc Viện trưởng viện kiểm sát cấp trên chia sẻ về ý kiến của mình thì không phạm tội này.
Trường hợp thuế người có thẩm quyền như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trường viện kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, không ký bản kết luận điều tra, không ra bản cáo trạng truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội nhưng không biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội mà chỉ có Điều tra viên, kiểm sát viên biết rõ là có tội thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; Viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát không phải là chủ thể của tội phạm này, mà tùy trường hợp cụ thể họ có thể bị xử lý kỉ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 360 Bộ luật hình sự.
Khách thể của tội phạm
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là tội phạm không chỉ xâm phạm đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng, mà còn xâm phạm đến nguyên tắc xử lý "mọi hành vi phạm tội phải bị phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh". Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là tội cố ý bảo lọt tội phạm và do đó còn xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân. Tuy nhiên, về chính sách hình sự, hành vi bỏ lọt tội phạm không chỉ bị coi là nguy hiểm như hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội. Điều này được thể hiện ở mức hình phạt quy định trong khung hình phạt của điều luật. Mức hình phạt cao nhất của tội này là 12 năm tù, trong khi đó mức hình phạt cao nhất của tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là 15 năm tù.
Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội danh này thể hiện ở hành vi "không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội", có thể thực hiện một trong các hành vi sau:
- Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can, không kết luận điều tra vụ án, ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với người mà mình biết rõ là có tội.
- Điều tra viên không lập hồ sơ vụ án; không triệu tập bị can hoặc có triệu tập nhưng không tiến hành hỏi cung và những người tham gia tố tụng khác; không quyết định áp giải bị can; không thi hành lệnh bắt tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ; không tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực hiện điều tra; không tiến hành các hoạt động điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan điều tra.
- Viện trưởng, Phó viện trưởng viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can; ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; quyết định không phục hồi điều tra; quyết định không phê chuẩn hoặc các quyết định của cơ quan điều tra; không yêu cầu cơ quan điều tra thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, không quyết định việc truy tố.
- Kiểm sát viên không kiểm sát việc khởi tố, không kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra; không đề ra yêu cầu điều tra; không triệu tập và hỏi cung bị can; không triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; không kiểm sát việc bắt giữ, tạm giữ, tạm giam; không tham gia phiên tòa; không đọc cáo trạng, quyết định của viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; không hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội.
Khác với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, đối với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội bao gồm cả hành vi không khởi tố vụ án của người có thẩm quyền, vì nếu không khởi tố vụ án thì cũng không có căn cứ để khởi tố bị can. Tuy nhiên, hành vi không khởi tố vụ án chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó liền ngay trước hành vi khởi tố bị can, nếu không khởi tố vụ án thì không khởi tố bị can được, nếu chưa xác định được bị can mà không khởi tố vụ án hoặc hành vi không khởi tố vụ án của người chỉ có thẩm quyền khởi tố vụ án, chứ không có thẩm quyền khởi tố bị can thì không cấu thành tội phạm này như: Những người có thẩm quyền của bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư và cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự (trừ trường hợp những người có thẩm quyền trong các cơ quan này được khởi tố bị can đối với tội phạm ít nghiêm trọng); Hội đồng xét xử khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 134 Bộ Luật Hình sự. Nếu những người này không khởi tố vụ án thì những người có thẩm quyền như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng viện kiểm sát; Điều tra viên, kiểm sát viên vẫn có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Trong trường hợp cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội bằng cách lấy bớt hoặc thêm vào hồ sơ vụ án những tài liệu tình tiết gỡ tội cho người phạm tội hoặc sửa chữa tài liệu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ đình chỉ vụ án đối với người có tội thì người có hành vi này bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm sai lệch hồ sơ vụ án là tội nặng hơn so với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội.
Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Tuy nhiên, nếu hậu quả xảy ra thì tùy trường hợp, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của Điều luật.
Cũng như đối với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, điều luật không quy định dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, nhưng việc xác định thế nào là người có tội là vấn đề rất cần thiết khi xác định hành vi phạm tội.
Người có tội với người bị coi là có tội khác nhau. Người có tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Có tội là một hiện tượng khách quan và theo quy định của Bộ luật hình sự thì hành vi đó đã cấu thành tội phạm, còn người bị coi là có tội là người bị tòa án kết án bằng một bản án và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật; trong số những người bị toàn án kết án có thể có người không có tội, nhưng về mặt pháp lý thì người đó vẫn bị coi là có tội.
Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội có thể không truy cứu tất cả các tội phạm mà họ đã thực hiện hoặc không truy cứu hoặc một số tội phạm mà họ thực hiện còn các tội phạm khác vẫn truy cứu. Ví dụ: A phạm tội cố ý gây thương tích và cướp tài sản, nhưng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản, còn tội cố ý gây thương tích thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của người mà mình không truy cứu hành vi phạm tội, nhưng cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều luật quy định "biết rõ là có tội" tức là người phạm tội phải biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội; nếu vì lí do khách quan hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà người có thẩm quyền không biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội, thì cũng không phạm tội này.
Biết rõ là có tội là tự bản thân người có thẩm quyền biết, nhưng cũng có trường hợp người khác nói cho biết, nhưng vẫn cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội. Đây là vấn đề phức tạp không phải mọi trường hợp đều xác định được ý thức chủ quan của người phạm tội. Thông thường, khi đã có chủ ý không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, người phạm tội thường đổ lỗi cho trình độ, do nhận thức và theo họ thì không có tội.
Trường hợp Viện kiểm sát, hoặc tòa án trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung vì còn lọt người lọt tội hoặc hoặc phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn, nhưng cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn, nhưng cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà viện kiểm sát hoặc tòa án cho là có tội.
Trường hợp Viện kiểm sát hoặc tòa án trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung vì còn lọt người lọt tội hoặc phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn nhưng Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà Viện Kiểm sát hoặc Tòa án cho là có tội. Trong só này có nhiều trường hợp Tòa án cấp giám đốc thẩm phải hủy bản án để điều tra, truy tố lại nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội mà cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự. Vậy đối với trường hợp này, có coi hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự của người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát là hành vi biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội hay không: Thực tiễn xét xử chưa có trường hợp nào tương tự bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, vì người có thẩm quyền trong Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát đều lấy lý do là trình độ, do nhận thức chứ không phải cố ý. Tuy nhiên, với tinh thần cải cách pháp lý hiện nay, nếu có căn cứ xác didngj người có thẩm quyền đã biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là người có tội mà viện lý do trình độ hoặc dùng "quyền" của mình để không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội đã được cấp giám đốc thẩm kết luận là có tội thì cũng cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người này về tội "không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội" mới có tác dụng đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.
Nếu người có thẩm quyền do thiếu trách nhiệm kiểm tra, để cho cấp dưới báo cáo sai dẫn đến không quyết định khởi tố, kết luận điều tra hoặc không truy tố người có tội mà gây hậu quả nghiêm trọng tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 360 Bộ luật hình sự.
2. Hình phạt tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
Nội dung Điều 369 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội danh này như sau:
Điều 369. Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Không truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng;
b) Đối với 02 người đến 05 người;
c) Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bỏ trốn hoặc thực hiện hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
d) Dẫn đến việc người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trả thù người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị hại, nhân chứng;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Đối với 05 người trở lên;
b) Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
c) Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
d) Làm người bị hại tự sát.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo điểm t, Điều 2 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 có thay đổi nội dung: "t) Thay thế cụm từ “05 người trở lên” bằng cụm từ “06 người trở lên” tại điểm a và cụm từ “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” bằng cụm từ “tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” tại điểm b khoản 3 Điều 369;"
2.1 Khung hình phạt cơ bản và tăng nặng
- Khung hình phạt cơ bản: Bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
- Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất: bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, khi có một trong các tình tiết tăng nặng sau:
- Không truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng (là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù);
- Đối với 02 người đến 05 người;
- Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bỏ trốn hoặc thực hiện hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng (là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn và mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm) hoặc tội phạm nghiêm trọng (là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù);
- Dẫn đến việc người không bị truy cứu trách nhệm hình sự trả thù người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị hại nhân chứng;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội: làm ảnh hưởng đến tình trạng, trạng thái bình yên của xã hội.
- Khung hình phạt tăng nặng thứ hai: bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm, khi có một trong cách tình tiết tăng nặng sau:
- Đối với 06 người trở lên;
- Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm từ đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình);
- Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Làm người bị hại tự sát.
Như vậy, mức hình phạt cao nhất mà người phạm tội không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội có thể bi áp dụng là 12 năm tù. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
2.2. Phân biệt với chế định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự là một hành vi vi phạm pháp luật hình sự, trong khi miễn truy cứu trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam.
Tội không truy cứu TNHS là một hành vi cố ý vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tố tụng. Ngược lại, miễn truy cứu TNHS là một quyết định pháp lý đúng đắn, dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Miễn truy cứu TNHS chỉ được áp dụng khi người phạm tội đáp ứng các điều kiện khách quan do pháp luật quy định (ví dụ: có sự thay đổi chính sách pháp luật, được đại xá, tự nguyện sửa chữa, hòa giải với bị hại, hoặc mắc bệnh hiểm nghèo). Tội không truy cứu TNHS không dựa trên bất kỳ căn cứ pháp lý nào mà là hành vi cố ý làm trái.
Khi được miễn truy cứu TNHS, người phạm tội không phải chịu hậu quả pháp lý hình sự, nhưng việc miễn này phải được thể hiện bằng bản án hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Ngược lại, hành vi không truy cứu TNHS người có tội sẽ dẫn đến việc người thực hiện hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự.
2.3. Phân biệt với thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là một chế định pháp luật mang tính khách quan về mặt thời gian. Khi hết thời hạn do BLHS quy định (từ 5 đến 20 năm tùy theo loại tội phạm), người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa.
Sự khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là:
- Tội không truy cứu TNHS là một hành vi chủ quan, vi phạm pháp luật. Trong khi đó, thời hiệu truy cứu TNHS là một quy định khách quan của pháp luật, không liên quan đến ý chí chủ quan của người có thẩm quyền.
- Việc hết thời hiệu truy cứu TNHS là một trường hợp đương nhiên theo quy định của pháp luật, không cần sự can thiệp có chủ ý của người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, hành vi cố ý không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (trước khi hết thời hiệu) là một hành vi nguy hiểm, phá vỡ nguyên tắc thượng tôn pháp luật.
3. So sánh với Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 368 BLHS)
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 369) và Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 368) là hai mặt đối lập của cùng một vấn đề: sự lạm dụng quyền lực trong hoạt động tư pháp. Cả hai tội danh đều xuất phát từ hành vi cố ý làm trái pháp luật của người có thẩm quyền, nhưng hành vi và hậu quả lại hoàn toàn khác nhau.
| Tiêu chí | Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 369) | Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 368) |
| Bản chất hành vi | Là hành vi bỏ lọt tội phạm, chủ yếu là không hành động (cố ý không thực hiện trách nhiệm tố tụng). | Là hành vi làm oan người vô tội, là một hành vi hành động (cố ý khởi tố, truy tố, xét xử một người không phạm tội). |
| Khách thể trực tiếp | Xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng, nguyên tắc xử lý tội phạm. | Xâm phạm đến quyền tự do, danh dự, nhân phẩm và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân. |
| Hậu quả | Dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, làm mất công bằng xã hội, gây nguy hiểm cho cộng đồng. | Dẫn đến việc một người vô tội phải chịu trách nhiệm hình sự, bị hạn chế hoặc tước đoạt các quyền cơ bản. |
Hai tội danh này là hai biểu hiện trái ngược của sự tha hóa quyền lực trong bộ máy tư pháp. Một bên là sự bao che, một bên là sự hãm hại, nhưng cả hai đều làm xói mòn niềm tin của công chúng vào công lý và gây tổn hại nghiêm trọng đến trật tự xã hội.
Kết luận
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là một tội danh đặc thù, có cấu thành phức tạp và mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính công bằng, minh bạch của nền tư pháp. Mặc dù là một tội phạm hình thức, việc truy tố tội danh này lại đối mặt với nhiều thách thức lớn trong thực tiễn, chủ yếu do khó khăn trong việc chứng minh yếu tố lỗi cố ý trực tiếp.
Việc xử lý nghiêm minh tội danh này không chỉ là để trừng trị những cá nhân vi phạm mà còn là để củng cố niềm tin của nhân dân vào các cơ quan công quyền, đảm bảo rằng mọi hành vi phạm tội đều phải bị xử lý công bằng, không có vùng cấm. Đây là một phần không thể thiếu trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tư pháp, góp phần xây dựng một nền pháp quyền vững mạnh.
Để nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm và giải quyết những vướng mắc trên, việc hoàn thiện các quy định pháp luật là vô cùng cấp thiết. Các kiến nghị chính bao gồm:
- Sửa đổi tên tội danh: Đề xuất sửa tên điều luật thành "Tội bỏ lọt tội phạm, người phạm tội trong hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra, truy tố". Thay đổi này không chỉ đảm bảo tính chính xác về mặt pháp lý (sử dụng cụm từ "phạm tội" thay cho "có tội") mà còn mở rộng phạm vi điều chỉnh ra cả giai đoạn "giải quyết nguồn tin về tội phạm", một giai đoạn cực kỳ quan trọng và dễ xảy ra hành vi bỏ lọt.
- Làm rõ chủ thể và phạm vi trách nhiệm: Cần sửa cụm từ “thẩm quyền” thành “thẩm quyền và trách nhiệm trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra, truy tố” để xác định rõ phạm vi hoạt động tư pháp thuộc đối tượng điều chỉnh của điều luật, loại trừ sự nhầm lẫn với các tội danh xảy ra ở giai đoạn xét xử.
- Ban hành văn bản hướng dẫn: Sớm ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hoặc Thông tư liên tịch để hướng dẫn chi tiết về các tình tiết "biết rõ", quy định các loại chứng cứ có thể dùng để chứng minh ý chí chủ quan của người phạm tội (ví dụ: kết quả họp, chỉ đạo của cấp trên, lời khai nhân chứng).
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.