- 1. Cấu thành tội phạm của tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, xét xử
- 1.1. Khách thể của tội phạm
- 1.2. Mặt khách quan của tội phạm
- 1.3. Chủ thể của tội phạm
- 1.4. Mặt chủ quan của tội phạm
- 2. Hình phạt đối với người phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, xét xử
- 2.1 Các khung hình phạt cơ bản, tăng nặng
- 2.2. Tham khảo hình phạt qua các bản án điển hình
- 3. So sánh tội trốn khỏi nơi giam giữ và tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn
- 4. Những hạn chế, vướng mắc và đề xuất kiến nghị
- Kết luận
Mặc dù hiện nay Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có định nghĩa pháp lý về hành vi bỏ trốn khỏi nơi tạm giam, tạm giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, xét xử. Song xuất phát từ khái niệm tội phạm quy định trong bộ luật hình sự và đặc điểm của loại tội phạm này quy định tại Điều 386 Bộ luật Hình sự, có thể đưa ra khái niệm về hành vi trốn khỏi nơi giam giữ, trốn khi đang bị áp giải hoặc đang bị xét xử là hành vi của người đang bị giam, bị dẫn giải hoặc đang trong phiên tòa xét xử nhưng lại thực hiện hành vi bỏ trốn một cách cố ý, xâm hại đến trật tự tư pháp, đến sự hoạt động đúng đắn của cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Người phạm tội ở đây phải là những người đang bị tạm giam (có lệnh tạm giam hoặc do chuyển trại...) mà bỏ trốn (tức là thoát khỏi sự quản lý của trại giam, trại cải tạo, người dẫn giải). Do vậy những trường hợp người bị giữ, bị tình nghi phạm tội (chưa có quyết định tạm giam) hoặc của người đang bị tập trung cải tạo (bị xử lý bằng một quyết định hành chính) mà có hành vi bỏ trốn thì không thuộc loại tội phạm nêu trên, không bị xử lý hình sự theo Điều 386. Mà ở đây những trường hợp này sẽ được xem xét xử lý theo đúng trường hợp của họ nếu có đối với người bị tình nghi phạm tội hoặc xem xét về kết quả cải tạo của họ đối với người bị tập trung cải tạo.
Hành vi bỏ trốn ở đây thường là lén lút nhưng cũng nhiều trường hợp công khai. Thông thường trường hợp công khai sẽ có sự tác động vật lý đến những người thi hành nhiệm vụ, những người xung quan do vậy những tình tiết này sẽ là dấu hiệu tăng nặng trong định khung hình phạt của tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, xét xử. Nếu hành vi dùng vũ lực mà gây nguy hại đến người khác hoặc dẫn đến chết người thì có thể bị truy cứu đồng thời một tội phạm khác tương ứng.
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nhằm bảo vệ tính nghiêm minh và hiệu quả của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong số đó, "Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử" được quy định tại Điều 386 Bộ luật Hình sự (BLHS) là một trong những tội phạm phổ biến nhất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Báo cáo này đi sâu phân tích toàn diện tội danh này, từ các dấu hiệu pháp lý cấu thành, khung hình phạt, đến thực tiễn áp dụng và những vấn đề tồn tại, dựa trên các quy định mới nhất của BLHS 2015, sửa đổi 2017 và các văn bản pháp luật liên quan.
1. Cấu thành tội phạm của tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, xét xử
Cấu thành tội phạm là những dấu hiệu pháp lý đặc trưng để nhận biết được hành vi như thế nào là tội phạm. Theo đó, cấu thành tội phạm của tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử thể hiện dưới 4 dấu hiệu pháp lý sau đây:
1.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể trực tiếp của tội danh này là hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp, bao gồm các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Hành vi bỏ trốn không chỉ đơn thuần là sự vi phạm trật tự an toàn tại nơi giam giữ mà còn tạo ra một chuỗi tác động tiêu cực, gây khó khăn và gián đoạn cho toàn bộ quy trình tố tụng, từ điều tra ban đầu cho đến việc thi hành bản án đã có hiệu lực. Điều này giải thích tại sao tội danh này được đặt trong nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, chứ không phải các tội xâm phạm trật tự công cộng thông thường.
1.2. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi bỏ trốn chính là hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này. Người phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử thực hiện hành vi "bỏ trốn" với nhiều thủ đoạn khác nhau, có thể là công khai mà cũng có thể là lén lút:
+ Người đang bị giam trong các trại giam, trại cải tạo mà bỏ trốn thì tức là trốn chấp hành hình phạt tù
+ Người đang bị tạm giam, tạm giữ mà bỏ trốn là trốn tránh khỏi sự bị truy cứu trách nhiệm hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng đối với họ. Hành vi bỏ trốn này của người phạm tội lợi dụng chủ yếu hoàn cảnh ra khỏi buồng giam, buồng tạm giữ như trong khi đang bị hỏi cung, người phạm tội xin phép cán bộ điều tra đi vệ sinh rồi bỏ trốn hoặc giả vờ ốm để được đưa đi bệnh viện rồi bỏ trốn...
+ Người đang bị dẫn giải bỏ trốn là trốn việc chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt tử hình hoặc trốn khỏi bị tuy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi bỏ trốn này thường lợi dụng sự mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm của người dẫn giải hoặc người phạm tội dùng thủ đoạn mua chuộc, khống chế, dùng vũ lực đối với lực lượng dẫn giải để tẩu thoát.
+ Người đang bị xét xử bỏ trốn là lợi dụng lúc tòa án đang xét xử để bỏ trốn dù là phiên tòa xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm. Hành vi bỏ trốn tại phiên tòa thường là của bị cáo bị giam hoặc bị tạm giam nhưng cũng có trường hợp những người bị tạm giam hoặc bị tạm giam có mặt tại phiên tòa chỉ là người làm chứng hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. Tại phiên tòa do có nhiều người tham dự, bị cáo lại không bị khóa tay, nhất là lúc Hội đồng xét xử nghỉ giải lao hoặc trong thời gian nghị án, họ sẽ lợi dụng sự thiếu cảnh giác của lực lượng canh giữ hoặc mua chuộc người canh giữ để bỏ trốn.
1.3. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt. Tức là chỉ những người đang bị tạm gia, đang bị tạm giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử mới có thể trở thành chủ thể của loại tội phạm này. Nếu họ đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không bị mất năng lực chịu trách nhiệm hình sự thì đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về loại tội phạm này nếu có hành vi vi phạm. Tuy nhiên cần lưu ý, những người đang có lệnh tam giam có thể là bị can. bị cáo nhưng không phải mọi bị can, bị cáo đều bị tạm giam. Vì vậy nếu bị can, bị cáo thực hiện hành vi bỏ trốn nhưng không bị tạm giam (không có lệnh tạm giam) như là bị can bỏ trốn trong khi đang tại ngoại để điều tra hoặc người trước đây bị tạm giam nhưng đã thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác (cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh) mà bỏ trốn thì không thuộc loại tội phạm này. Cũng tương tự như vậy, với những người đang bị tạm giam hoặc đang bị giam nhưng có quyết định của cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong các cơ sở khám chữa bệnh mà bỏ trốn thì cũng không phải chủ thể của loại tội phạm này.
1.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang dẫn giải, đang bị xét xử thực hiện hành vi phạm tội của mình hoàn toàn là do lỗi cố ý trực tiếp. Tức là biết rõ hành vi và hậu quả của mình là nguy hiểm cho xã hội, trái với quy định của pháp luật nhưng vẫn mong muốn cho hậ quả xảy ra. Mục đích chung của người phạm tội này là trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật đối với hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Còn động cơ bỏ trốn có thể có nhiều động cơ khác nhau như bỏ trốn về để trả thù người đã tố giác mình, bỏ trốn để thăm bố, mẹ, con hoặc bỏ trốn để tiếp tục phạm tội, làm công việc cá nhân mà mình chưa hoàn thành...
2. Hình phạt đối với người phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, xét xử
Nội dung Điều 386 BLHS 2015 quy định cụ thể như sau:
Điều 386. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử
1. Người nào đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người áp giải.
Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi điều 386: "Người vi phạm khoản 2 Điều 386 không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm theo khoản 1 Điều 389 (tội che giấu tội phạm)".
2.1 Các khung hình phạt cơ bản, tăng nặng
Khung hình phạt cơ bản (Khoản 1 Điều 386) Đối với loại tội phạm này, pháp luật hình sự quy định hình phạt như sau:
- Hành vi bỏ trốn trong khi đang bị tạm guam, tạm giữ, áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù thì sẽ phải chịu mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
- Nếu phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức hoặc dùng vũ lực đối với người canh gác, hoặc người áp giải thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm
Cần lưu ý nếu như người phạm tội dùng vũ lực, gây thương tích nặng, tổn hại nặng cho sức khỏe của nạn nhân, làm cho nạn nhân chết thì ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử thì còn có thể bị truy cứu hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc tội giết người nếu cấu thành tội phạm của hai loại tội này. Lúc này người phạm tội sẽ áp dụng mức hình phạt tổng hợp theo quy định của bộ luật Hình sự 2015.
Khung hình phạt tăng nặng (khoản 2, Điều 386): Nếu trường hợp có đồng bọn bên ngoài dùng vũ lực, tấn công giải thoát cho người bị tam giam, tạm giữ thì tùy từng tình tiết có thể bị truy cứ trách nhiệm hình sự về đồng phạm hoặc một loại tội riêng biệt:
- Nếu những người bên ngoài tự ý dùng vũ lực để giải thoát cho người đang bị giam, bị giữ hoặc đang bị dẫn giải, đang bị xét xử nhưng không có sự tiếp ứng của kẻ đó, thì chỉ những người dùng vũ lực tấn công vào người canh gác hoặc người dẫn giải phải chịu trách nhiệm về tội giết người nếu dẫn đến chết người, có dấu hiệu của tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc tội chống phá trại giam nếu có mục đích chống chính quyền nhân dân
- Nếu người bị tạm giam, tạm giữ hoặc đang bị dẫn giải, đang bị xét xử mà có sự bàn bạc, thỏa thuận trước về việc phối hợp giữa những người đang bị giam, giữ với đồng bọn ở bên ngoài xã hội để dùng vũ lực giải thoát cho nhau thì sẽ bị chịu trách nhiệm hình sự về vấn đề đồng phạm
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Tội trốn khỏi nơi giam giữ, hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử do Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính chất tham khảo. Hy vọng rằng những thông tin mà chúng tôi cung cấp tại bài viết sẽ giúp ích cho quý khách trong quá trình tìm hiểu thêm kiến thức pháp lý về loại tội phạm này
2.2. Tham khảo hình phạt qua các bản án điển hình
Thực tiễn xét xử đã chứng minh tính nguy hiểm của tội danh này và cách thức các cơ quan tố tụng áp dụng pháp luật.
Vụ án tại Bạc Liêu (Bản án số 20/2022/HS-ST): Vụ án này là một ví dụ điển hình về việc áp dụng tình tiết "có tổ chức". Các bị cáo Nguyễn Quốc D, Nguyễn Thành T và Lâm D2 đã bị truy tố về tội "Trốn khỏi nơi giam" theo điểm a khoản 2 Điều 386 BLHS. Hành vi phạm tội được thực hiện một cách có kế hoạch: D nảy sinh ý định, rủ rê và được T cùng D2 đồng ý. Họ cùng nhau đập phá tường trại giam, lợi dụng sơ hở của cán bộ quản lý và thời tiết để trốn thoát. Tòa án đã phân tích vai trò của từng bị cáo, xác định đây là đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và áp dụng đúng tình tiết định khung tăng nặng. Sau khi bị bắt, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tòa án đã cân nhắc các tình tiết này để đưa ra mức hình phạt phù hợp với tính chất vụ án.
Vụ án Triệu Quân Sự: Vụ án của Triệu Quân Sự, một phạm nhân nổi tiếng với nhiều lần vượt ngục, là một minh chứng khác cho thấy sự nguy hiểm của tội danh này. Sau khi vượt ngục khỏi trại giam ở Quảng Ngãi vào cuối năm 2015 , Sự đã tiếp tục thực hiện nhiều tội phạm khác như trộm cắp tài sản. Hành vi bỏ trốn của hắn không chỉ là việc thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước mà còn là "cánh cửa" dẫn đến một loạt các tội phạm mới. Điều này làm cho tổng hình phạt của hắn ngày càng tăng lên và thể hiện rõ mối liên hệ giữa hành vi trốn khỏi nơi giam giữ với sự bất ổn của an ninh, trật tự xã hội. Từ những vụ án như thế này, có thể thấy rằng tội danh này không chỉ là hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp mà còn là một nguy cơ tiềm ẩn gây ra các tội phạm khác, đòi hỏi phải có biện pháp phòng ngừa và xử lý cực kỳ nghiêm khắc.
3. So sánh tội trốn khỏi nơi giam giữ và tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn
| Tiêu chí so sánh | Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (Điều 386 BLHS) | Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn (Điều 376 BLHS) |
| Chủ thể | Chủ thể đặc biệt: Người đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù. | Chủ thể đặc biệt: Người được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ (giám thị, quản giáo, sĩ quan, chiến sĩ...). |
| Mặt khách quan | Hành vi chủ động bỏ trốn. | Hành vi thiếu sót, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định, dẫn đến người bị giam giữ trốn thoát. |
| Lỗi | Lỗi cố ý. | Lỗi vô ý hoặc cố ý (tùy thuộc vào bản chất hành vi thiếu trách nhiệm). |
| Khách thể | Xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng và thi hành án hình sự, gây cản trở quá trình tố tụng. | Xâm phạm đến chế độ quản lý, giam giữ, dẫn giải, cũng như an ninh, trật tự xã hội. |
| Hậu quả | Hậu quả (trốn thành công) không phải là dấu hiệu bắt buộc. Tội phạm hoàn thành từ khi có hành vi bỏ trốn. | Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc. Việc gây ra hậu quả nghiêm trọng là yếu tố cấu thành cơ bản của tội này. |
Sự khác biệt rõ ràng về chủ thể và hành vi cho thấy đây là hai tội danh độc lập, xử lý hai chủ thể khác nhau cho hai hành vi khác nhau. Tội trốn là hành vi trực tiếp của người bị giam giữ, trong khi tội thiếu trách nhiệm là hành vi gián tiếp của người quản lý. Việc một người bỏ trốn có thể đồng thời là căn cứ để khởi tố hai tội danh này, thể hiện tính toàn diện và chặt chẽ của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam trong việc xử lý các vi phạm liên quan đến hoạt động tư pháp.
4. Những hạn chế, vướng mắc và đề xuất kiến nghị
Mặc dù quy định của Điều 386 BLHS đã tương đối chặt chẽ, thực tiễn áp dụng vẫn tồn tại một số hạn chế và bất cập, xuất phát từ cả quy định pháp luật và thực tiễn thi hành.
Một số văn bản pháp luật và văn bản hướng dẫn còn chưa theo kịp thực tiễn, tạo ra những "lỗ hổng" pháp lý như đã phân tích ở Phần 7. Cụ thể, việc thiếu hướng dẫn rõ ràng về cách xử lý bị can trốn khỏi nơi chữa bệnh bắt buộc khiến các cơ quan tố tụng gặp lúng túng, không có cơ sở pháp lý để phục hồi điều tra hoặc truy nã.
Thực trạng quá tải tại các cơ sở giam giữ là một vấn đề lớn, gây khó khăn cho công tác quản lý, giám sát. Phương thức quản lý, giám sát tại một số nơi vẫn còn thủ công, chưa được hiện đại hóa đầy đủ, dẫn đến sự lỏng lẻo trong việc kiểm soát phạm nhân. Sự thiếu hụt về biên chế, năng lực của đội ngũ cán bộ quản giáo ở một số địa phương cũng là một nguyên nhân làm tăng nguy cơ xảy ra các vụ bỏ trốn. Những bất cập này cho thấy tội trốn khỏi nơi giam giữ không chỉ là vấn đề của ý thức chấp hành pháp luật kém của người phạm tội, mà còn là hệ quả của những bất cập trong công tác quản lý, giám sát của cơ quan chức năng. Căn nguyên của vấn đề nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa quy định pháp luật và năng lực thực thi.
Để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm này, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện pháp luật đến cải thiện năng lực thực thi.
Hoàn thiện quy định pháp luật cần có các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết hơn, đặc biệt là các thông tư liên tịch giữa các cơ quan tố tụng, để làm rõ các khái niệm, tình tiết trong Điều 386 BLHS. Cần cụ thể hóa việc xử lý đối với trường hợp người trốn khỏi nơi chữa bệnh bắt buộc, quy định rõ quy trình phục hồi điều tra và ra quyết định truy nã để lấp đầy khoảng trống pháp lý hiện có.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa một trong những giải pháp quan trọng nhất là đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ hiện đại vào công tác quản lý, giám sát phạm nhân, từ hệ thống camera giám sát đến các thiết bị cảnh báo tự động. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo, nâng cao nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ quản giáo, bảo vệ để đảm bảo họ có đủ năng lực và tinh thần trách nhiệm trong công việc được giao.
Đề xuất nghiên cứu khoa học cần khuyến khích các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tội danh này, đặc biệt là các nghiên cứu liên ngành (pháp luật, xã hội học, tâm lý học). Điều này giúp hiểu rõ hơn về nguyên nhân và động cơ bỏ trốn, từ đó đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, không chỉ dựa vào xử lý hình sự mà còn dựa trên các yếu tố tâm lý và xã hội.
Kết luận
Tóm lại, "Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử" là một tội danh quan trọng, phản ánh sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ hoạt động tư pháp. Điều 386 BLHS 2015 đã thể hiện sự tiến bộ trong tư duy lập pháp bằng cách mở rộng phạm vi chủ thể, bao quát toàn bộ chu trình tố tụng. Việc phân tích các dấu hiệu cấu thành tội phạm và khung hình phạt cho thấy một hệ thống quy định chặt chẽ, đặc biệt là đối với các tình tiết tăng nặng như "có tổ chức" và "dùng vũ lực". Mối quan hệ phức tạp với các tội danh khác như "Tội che giấu tội phạm" và "Tội thiếu trách nhiệm..." cho thấy tính chất phức tạp và hệ lụy của tội danh này.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn đối mặt với những thách thức, từ các "lỗ hổng" pháp lý đến những bất cập trong công tác quản lý, giám sát. Để giảm thiểu tội phạm này, cần có một cách tiếp cận đa chiều, đồng bộ từ việc hoàn thiện các văn bản hướng dẫn, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao năng lực cán bộ, đến việc nghiên cứu sâu hơn về các nguyên nhân gốc rễ. Điều này sẽ giúp đảm bảo tính nghiêm minh và hiệu quả của hệ thống tư pháp Việt Nam, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội.
Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến theo số điện thoại: 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!