Bản chất của tội danh này là hành vi sử dụng bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực, gây ra tình trạng hoảng sợ, thiệt hại về người và tài sản, nhưng với mục đích đặc biệt là nhằm chống lại chính quyền nhân dân, lật đổ chế độ hoặc làm suy yếu chính quyền. Việc quy định tội danh này thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội và sự ổn định của chế độ.

Việc phân tích chuyên sâu Điều 113 BLHS 2015 (sửa đổi 2017) là cần thiết để làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm, phân biệt với các tội danh khác (đặc biệt là Tội khủng bố Điều 299 BLHS), và nhận diện những thách thức trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các quy định pháp luật hiện hành và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Điều 113 BLHS đóng vai trò chiến lược trong hệ thống pháp luật an ninh quốc gia. Việc tội danh này được đặt trong chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia, với mục đích bắt buộc là "chống chính quyền nhân dân", cho thấy đây không chỉ là việc xử lý các hành vi bạo lực thông thường mà là bảo vệ nền tảng chính trị và sự ổn định của quốc gia. Sự tồn tại và thực thi nghiêm minh của Điều 113 là yếu tố then chốt để duy trì chủ quyền và trật tự chính trị, phản ánh ưu tiên của hệ thống pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ hệ thống chính trị của mình.

 

1. Hình phạt tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân

Điều 113 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017, quy định chi tiết về Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân như sau :

Khoản 1: "Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình."

Khoản 2: "Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

  • a) Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố;
  • b) Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố;
  • c) Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của cán bộ, công chức hoặc người khác; chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
  • d) Tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân."

Khoản 3: "Phạm tội trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần của cán bộ, công chức hoặc người khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm."

Khoản 4: "Khủng bố cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cũng bị xử phạt theo Điều này."

Khoản 5: "Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm."

Các văn bản pháp luật liên quan khác bao gồm Luật Phòng, chống khủng bố năm 2013, cung cấp các định nghĩa cơ bản về "khủng bố" và "tài trợ khủng bố", làm nền tảng cho các quy định về chống khủng bố nói chung.

Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là sự thiếu vắng các văn bản hướng dẫn chi tiết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hoặc các thông tư liên ngành hướng dẫn trực tiếp Điều 113 BLHS. Các Nghị quyết được ban hành (như Nghị quyết 07/2019/NQ-HĐTP) chủ yếu tập trung hướng dẫn Điều 299 (Tội khủng bố) và Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố). Việc không có văn bản hướng dẫn riêng cho Điều 113, tương tự như Nghị quyết 07/2019/NQ-HĐTP cho Điều 299, cho thấy việc áp dụng Điều 113 hiện nay phụ thuộc nhiều hơn vào việc giải thích theo nghĩa đen của Bộ luật Hình sự, các nguyên tắc pháp luật chung và các án lệ thực tiễn. Điều này có thể dẫn đến những thiếu nhất quán trong việc giải thích và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tố tụng, đặc biệt là đối với yếu tố "mục đích chống chính quyền nhân dân" vốn rất phức tạp và là dấu hiệu cốt lõi để phân biệt tội danh này. Sự thiếu hụt này tiềm ẩn những thách thức trong việc xử lý các hình thức khủng bố có động cơ chính trị mới nổi mà không được quy định chi tiết trong luật.

Về án lệ, các vụ án như vụ Trương D ở Bình Dương hay vụ Hồ Văn Việt ở Khánh Hòa đã được xét xử theo Điều 113. Mặc dù các bản án này chưa được công nhận là án lệ chính thức của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, chúng vẫn là nguồn tham khảo quan trọng về thực tiễn áp dụng pháp luật.

1.1 Các khung hình phạt và hình phạt bổ sung

Điều 113 BLHS 2015 quy định 4 khung hình phạt chính, phản ánh mức độ nghiêm trọng khác nhau của hành vi phạm tội :

Khung 1 (Khoản 1): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Áp dụng khi xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đây là khung hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện tính chất đặc biệt nguy hiểm của hành vi nhằm chống chính quyền.

Khung 2 (Khoản 2): Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm. Áp dụng cho các trường hợp:

  • Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố.
  • Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố.
  • Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của cán bộ, công chức hoặc người khác; chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
  • Tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Khung 3 (Khoản 3): Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Áp dụng khi đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần của cán bộ, công chức hoặc người khác.

Khung 4 (Khoản 5): Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Áp dụng đối với người chuẩn bị phạm tội này.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị tước một số quyền công dân từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (theo Điều 122 BLHS năm 2015).

Một vấn đề phát sinh trong việc áp dụng hình phạt là khoảng trống trong việc xử lý hành vi khủng bố tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế. Khoản 4 Điều 113 quy định hành vi "khủng bố cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" cũng bị xử phạt theo Điều này. Tuy nhiên, các khung hình phạt chính (Khoản 1, 2, 3) lại được quy định dựa trên hậu quả là "xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể hoặc uy hiếp tinh thần của con người". Điều này tạo ra sự không nhất quán: nếu một hành vi khủng bố nhằm vào một tổ chức nước ngoài (ví dụ: một đại sứ quán, một văn phòng Liên Hợp Quốc) gây ra thiệt hại đáng kể về tài sản hoặc gây gián đoạn hoạt động nghiêm trọng nhưng không trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe, hoặc tự do thân thể của cá nhân, thì việc áp dụng khung hình phạt nào sẽ trở nên không rõ ràng. Ngôn ngữ hiện tại của điều luật dường như yêu cầu "thiệt hại về cá nhân" là điều kiện tiên quyết để áp dụng các khung hình phạt cụ thể. Điều này có thể gây khó khăn trong việc truy tố các trường hợp mà tác động chính là lên quan hệ quốc tế hoặc hoạt động của tổ chức, có khả năng làm suy yếu mục đích của Khoản 4. Do đó, cần có sự làm rõ hoặc bổ sung các điều khoản hình phạt cụ thể hơn để giải quyết tác động đối với các tổ chức.

Bảng tổng hợp các khung hình phạt của Điều 113 BLHS 2015 (sửa đổi 2017):

Khoản Điều 113 Hành vi phạm tội chính Khung hình phạt
Khoản 1 Xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc người khác; Phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân (nhằm chống chính quyền nhân dân) Từ 12 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Khoản 2 a) Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố; b) Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố; c) Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của cán bộ, công chức hoặc người khác; chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân; d) Tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Từ 10 năm đến 15 năm tù
Khoản 3 Đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1; hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần của cán bộ, công chức hoặc người khác. Từ 05 năm đến 10 năm tù
Khoản 4 Khủng bố cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của Việt Nam (áp dụng theo các khung trên tùy hành vi cụ thể). Áp dụng theo các khung hình phạt tại Khoản 1, 2, 3 tùy thuộc vào hành vi cụ thể.
Khoản 5 Chuẩn bị phạm tội này. Từ 01 năm đến 05 năm tù

1.4. So sánh với quy định trước đây (Điều 84 BLHS 1999)

Điều 113 BLHS 2015 (sửa đổi 2017) được xây dựng trên cơ sở Điều 84 BLHS năm 1999 và đã có nhiều điểm mới quan trọng, phản ánh sự phát triển của pháp luật Việt Nam nhằm thích ứng với các mối đe dọa an ninh quốc gia trong bối cảnh mới.

Các điểm mới nổi bật của Điều 113 BLHS 2015 so với Điều 84 BLHS 1999 bao gồm :

Bổ sung hành vi phạm tội mới:

  • Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố.
  • Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố.
  • Phá hủy, chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân (trước đây chỉ là "phá hủy tài sản").
  • Tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Bổ sung khách thể bảo vệ: Điều 113 mở rộng đối tượng tác động của tội phạm, bổ sung cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của Việt Nam (Khoản 4 Điều 113).

Bổ sung hình phạt cho hành vi chuẩn bị phạm tội: Quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với người chuẩn bị phạm tội (Khoản 5 Điều 113).

Những bổ sung này thể hiện sự mở rộng phạm vi điều chỉnh của điều luật và khả năng thích ứng với các mối đe dọa mới trong bối cảnh hiện đại. Việc bổ sung các hành vi liên quan đến tấn công mạng, thành lập/tham gia tổ chức khủng bố, và các hành vi chuẩn bị phạm tội cho thấy sự nhận thức về tính chất phức tạp và đa chiều của khủng bố hiện đại, thường liên quan đến chiến tranh mạng, mạng lưới có tổ chức và các yếu tố quốc tế. Việc hình sự hóa các hành vi chuẩn bị phạm tội cũng cho phép các cơ quan chức năng can thiệp sớm hơn, hướng tới phòng ngừa tội phạm thay vì chỉ phản ứng sau khi hành vi bạo lực đã hoàn thành. Cách tiếp cận chủ động này nhấn mạnh sự công nhận của pháp luật Việt Nam về bản chất năng động và đa diện của các mối đe dọa an ninh quốc gia trong thế kỷ 21.

 

2. Phân tích cấu thành tội phạm

Phân tích cấu thành tội phạm của Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân theo Điều 113 BLHS 2015 (sửa đổi 2017) bao gồm các yếu tố sau:

2.1. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là có khả năng nhận thức và khả năng làm chủ hành vi của mình, và đạt độ tuổi theo quy định pháp luật. Theo Điều 12 BLHS 2015 (sửa đổi 2017), độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này là người từ đủ 16 tuổi trở lên. Chủ thể có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch.

2.2. Khách thể của tội phạm

Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân trực tiếp xâm phạm sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, an ninh đối nội, an ninh đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, tội phạm này còn xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể, tài sản của cán bộ, công chức hoặc người khác (bao gồm cả công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch). Đặc biệt, Điều 113 còn mở rộng khách thể bảo vệ là tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế khi hành vi khủng bố nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của Việt Nam.

2.3. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm này bao gồm các hành vi cụ thể được mô tả tại các khoản của Điều 113, có tính chất nguy hiểm cao cho xã hội :

  • Xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc người khác: Là hành vi tước đoạt tính mạng người khác bằng nhiều phương thức như bắn, chém, đầu độc, đánh bom, xả súng, đầu độc tập thể.
  • Phá hủy, chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Là hành vi làm mất hoàn toàn giá trị hoặc giá trị sử dụng của tài sản, hoặc làm giảm giá trị sử dụng nhưng có thể khôi phục.
  • Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố: Liên quan đến việc hình thành hoặc gia nhập các nhóm có mục đích khủng bố, hoặc cung cấp tài chính cho các hoạt động này.
  • Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố: Các hành vi mang tính chất chuẩn bị, hỗ trợ cho việc thực hiện các hành vi khủng bố trực tiếp.
  • Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của cán bộ, công chức hoặc người khác: Bao gồm bắt giữ trái phép làm con tin, đánh đập, gây thương tích.
  • Tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Các hành vi tấn công mạng nhằm phá hoại, gây rối loạn hoạt động của hệ thống thông tin.
  • Đe dọa thực hiện một trong các hành vi nêu trên hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần: Là hành vi dùng lời nói, cử chỉ, thái độ làm người bị đe dọa lo sợ tính mạng, thân thể, tài sản bị xâm phạm.
  • Khủng bố cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của Việt Nam: Mở rộng phạm vi đối tượng bị khủng bố và mục đích gây ảnh hưởng đến đối ngoại.

Một vấn đề liên quan đến kỹ thuật lập pháp là việc Điều 113 Khoản 2 gộp nhiều hành vi có tính chất khác nhau (từ hành vi gây hại trực tiếp, hành vi tổ chức, đến hành vi chuẩn bị) vào cùng một khoản và áp dụng cùng một khung hình phạt. Điều này có thể gây khó khăn trong việc áp dụng chính xác trách nhiệm hình sự, bởi lẽ các hành vi này có mức độ nguy hiểm và vai trò trong chuỗi hành vi phạm tội khác nhau. Ví dụ, việc "thành lập tổ chức khủng bố" là một hành vi mang tính nền tảng, trong khi "cung cấp vũ khí" là hành vi hỗ trợ, và "xâm phạm tính mạng" là hành vi gây hại trực tiếp. Việc xử phạt chúng cùng một khung có thể dẫn đến sự thiếu cân xứng trong việc định tội và lượng hình, làm phức tạp việc phân hóa trách nhiệm hình sự giữa các vai trò khác nhau (người cầm đầu, đồng phạm, người thực hành). Điều này cho thấy một thách thức cấu trúc trong luật cần được xem xét để đảm bảo việc áp dụng công lý một cách chi tiết và công bằng hơn.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm (Mục đích chống chính quyền nhân dân)

Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước hậu quả và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Mục đích "chống chính quyền nhân dân" là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm này. Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113) với Tội khủng bố (Điều 299). Nếu không có mục đích chống chính quyền nhân dân, hành vi khủng bố chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 299 BLHS 2015. Động cơ phạm tội (như hận thù giai cấp, phản động, cơ hội chính trị) không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, động cơ có thể được xem xét khi quyết định hình phạt.

Việc chứng minh "mục đích chống chính quyền nhân dân" trong thực tiễn là một thách thức lớn. Mục đích là một yếu tố chủ quan, khó có thể chứng minh một cách rõ ràng và trực tiếp. Điều này đòi hỏi các cơ quan điều tra và truy tố phải thu thập chứng cứ một cách toàn diện, bao gồm lời khai của đối tượng, các tài liệu, mối quan hệ, tư tưởng chính trị, và các tuyên bố trước đó của họ để làm rõ ý đồ chính trị. Khi hành vi bạo lực có thể tương tự như các hành vi trong Điều 299 (khủng bố thông thường), việc xác định mục đích trở thành yếu tố duy nhất để phân loại tội danh, tạo áp lực lớn lên quá trình tố tụng. Điều này có thể dẫn đến sự chậm trễ hoặc tranh luận trong việc định tội, đặc biệt khi ý đồ chính trị của đối tượng thường được che giấu hoặc ngụy trang. Sự thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết cho Điều 113 càng làm tăng thêm khó khăn này.

 

3. Phân biệt với Tội khủng bố (Điều 299 BLHS 2015)

Việc phân biệt Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113 BLHS) và Tội khủng bố (Điều 299 BLHS) là một trong những điểm phức tạp nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội khủng bố. Mặc dù có nhiều hành vi khách quan trùng lặp, sự khác biệt cốt lõi nằm ở mặt chủ quan, cụ thể là mục đích phạm tội.

Bảng so sánh Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113) và Tội khủng bố (Điều 299) BLHS 2015:

Tiêu chí Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113 BLHS 2015) Tội khủng bố (Điều 299 BLHS 2015)
Mục đích phạm tội

Bắt buộc: Nhằm chống chính quyền nhân dân

Bắt buộc: Nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng

Khách thể

An ninh quốc gia, sự vững mạnh của chính quyền nhân dân; tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể, tài sản của cá nhân, tổ chức

Trật tự công cộng, an toàn công cộng; tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức

Mặt khách quan

Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể, tài sản; tấn công mạng; thành lập/tham gia/tài trợ/huấn luyện tổ chức khủng bố; đe dọa thực hiện các hành vi trên

Tương tự Điều 113, nhưng mục đích cuối cùng là gây hoảng sợ công chúng

Chủ thể

Từ đủ 16 tuổi trở lên

Từ đủ 14 tuổi trở lên đối với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; từ đủ 16 tuổi trở lên đối với mọi tội phạm

Lỗi

Cố ý trực tiếp

Cố ý trực tiếp

Khung hình phạt cơ bản (Khoản 1)

Từ 12 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Từ 10 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Điểm khác biệt chính giữa hai tội danh này là mục đích phạm tội. Đối với Điều 113, mục đích bắt buộc là "chống chính quyền nhân dân", thể hiện ý đồ chính trị nhằm lật đổ, làm suy yếu hoặc thay đổi chính quyền. Ngược lại, đối với Điều 299, mục đích bắt buộc là "gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng". Mục đích này không mang tính chính trị trực tiếp chống chính quyền mà chủ yếu gây rối loạn trật tự công cộng, gây áp lực lên xã hội hoặc nhà nước vì các mục đích khác không phải lật đổ.

Sự chồng chéo về các hành vi khách quan giữa Điều 113 và Điều 299 là đáng kể, bao gồm xâm phạm tính mạng, phá hủy tài sản, tấn công mạng, thành lập/tham gia tổ chức khủng bố, huấn luyện phần tử khủng bố. Khi các hành vi khách quan tương tự hoặc giống hệt nhau, ý chí chủ quan trở thành yếu tố duy nhất để phân loại tội danh. Điều này đặt ra áp lực rất lớn cho các điều tra viên và kiểm sát viên trong việc thu thập chứng cứ vững chắc về mục tiêu cuối cùng của người phạm tội.

Khó khăn này có thể dẫn đến những thách thức pháp lý, khả năng phân loại sai hoặc kéo dài thời gian điều tra. Ví dụ, một hành vi bạo lực gây hoảng loạn trong công chúng ban đầu có thể được xem xét theo Điều 299, nhưng nếu quá trình điều tra sâu hơn tiết lộ một động cơ chính trị rõ ràng nhằm gây bất ổn cho chính quyền, thì tội danh sẽ chuyển sang Điều 113. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích tâm lý, tư tưởng, thu thập thông tin tình báo và phân tích tỉ mỉ tất cả các yếu tố ngữ cảnh để xác định ý định thực sự của người phạm tội, vốn thường được che giấu. Việc thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể cho Điều 113 càng làm trầm trọng thêm thách thức này, đòi hỏi sự cẩn trọng và chuyên môn cao trong quá trình tố tụng.

4. Thực tiễn áp dụng và những khó khăn, vướng mắc

Trong thực tiễn áp dụng Điều 113 BLHS, các cơ quan tiến hành tố tụng thường đối mặt với một số khó khăn và vướng mắc đáng kể:

  • Khó khăn trong xác định mục đích "chống chính quyền nhân dân": Đây là thách thức lớn nhất trong thực tiễn xét xử, bởi mục đích là yếu tố chủ quan, khó chứng minh một cách rõ ràng. Việc phân biệt giữa hành vi khủng bố thông thường (Điều 299) và khủng bố chống chính quyền (Điều 113) phụ thuộc hoàn toàn vào việc xác định mục đích này. Điều này đòi hỏi phải thu thập chứng cứ toàn diện về lời khai, tài liệu, mối quan hệ, tư tưởng của đối tượng để làm rõ mục đích chính trị.
  • Sự chồng chéo về hành vi khách quan: Nhiều hành vi được mô tả trong Điều 113 và Điều 299 là tương tự nhau, gây khó khăn cho việc định tội nếu không xác định rõ mục đích. Vấn đề kỹ thuật lập pháp khi gộp các hành vi có tính chất khác nhau (trực tiếp gây hại, tổ chức, chuẩn bị) vào cùng một khoản và khung hình phạt cũng là một vướng mắc, có thể dẫn đến việc áp dụng hình phạt không hoàn toàn tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của từng hành vi cụ thể.
  • Thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết: Như đã phân tích ở Mục 2, việc thiếu Nghị quyết hướng dẫn cụ thể cho Điều 113 (tương tự Nghị quyết 07/2019/NQ-HĐTP cho Điều 299) có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật.
  • Vấn đề về giám định tư pháp: Trong các vụ án khủng bố, việc giám định thiệt hại về tài sản , giám định thương tật , hoặc giám định pháp y tâm thần là cần thiết để xác định hậu quả và năng lực trách nhiệm hình sự. Luật Giám định tư pháp 2012 (sửa đổi 2020) đã mở rộng phạm vi giám định và quy định về thời hạn giám định , nhưng thực tiễn vẫn có thể gặp khó khăn trong việc trưng cầu, phối hợp giám định trong các vụ án phức tạp.

Thực tiễn áp dụng luật còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố chính trị và xã hội. Ví dụ, trong vụ án Đắk Lắk, các yếu tố như "lòng khoan hồng của Đảng và Nhà nước", trình độ học vấn thấp, việc bị "lôi kéo, kích động bởi các phần tử bên ngoài", và hoàn cảnh kinh tế - xã hội khó khăn của các bị cáo là người dân tộc thiểu số đã được Hội đồng xét xử xem xét là tình tiết giảm nhẹ. Điều này cho thấy việc áp dụng luật hình sự, đặc biệt trong các vụ án an ninh quốc gia nhạy cảm, không chỉ là một quá trình kỹ thuật pháp lý đơn thuần mà còn bao hàm các cân nhắc chính sách rộng hơn. Mặc dù luật quy định các hình phạt nghiêm khắc, hệ thống tư pháp vẫn duy trì sự linh hoạt để áp dụng các chính sách nhân đạo. Điều này có thể dẫn đến sự khác biệt trong việc lượng hình ngay cả đối với các hành vi tương tự, dựa trên đánh giá của tòa án về hoàn cảnh, động cơ của người phạm tội (ngoài mục đích cốt lõi "chống chính quyền nhân dân"), và khả năng cải tạo của họ. Cách tiếp cận này cho thấy một phương pháp chống khủng bố đa chiều, kết hợp việc thực thi pháp luật nghiêm minh với nỗ lực giải quyết các vấn đề xã hội hoặc ảnh hưởng bên ngoài có thể dẫn đến hành vi phạm tội.

 

5. Các hình thức khủng bố và ví dụ minh họa từ thực tiễn xét xử

Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân có nhiều hình thức khác nhau, mỗi hình thức đều mang lại những tác động nghiêm trọng đến an ninh và ổn định của xã hội. Một trong những hình thức phổ biến nhất là khủng bố bằng vũ lực, trong đó những kẻ khủng bố sử dụng vũ khí, chất nổ hoặc các phương tiện gây hại khác để tấn công trực tiếp vào các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, hoặc những nơi đông người. Những hành vi này không chỉ gây thiệt hại về người và tài sản mà còn tạo ra sự hoang mang, lo sợ trong cộng đồng, làm suy yếu niềm tin vào khả năng bảo vệ của chính quyền.

Bên cạnh khủng bố bằng vũ lực, một hình thức khác cũng đáng chú ý là khủng bố bằng các phương tiện truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội. Những kẻ khủng bố có thể lợi dụng các nền tảng này để tuyên truyền, phát tán thông tin sai lệch hoặc kích động bạo lực. Việc sử dụng mạng xã hội để lôi kéo, cổ vũ người khác thực hiện các hành vi khủng bố là một thách thức lớn đối với chính quyền, vì nó dễ dàng lan truyền và khó kiểm soát, tạo ra tác động tiêu cực đến nhận thức và hành vi của một bộ phận không nhỏ người dân.

Cuối cùng, khủng bố kinh tế là một hình thức khác của tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân. Hành vi này thể hiện qua việc cản trở hoạt động kinh tế của quốc gia, có thể bằng cách gây ra sự hỗn loạn, phá hoại các cơ sở sản xuất, hoặc thao túng thị trường để gây thiệt hại cho nền kinh tế. Những tác động của khủng bố kinh tế không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế mà còn có thể dẫn đến tình trạng bất ổn xã hội, làm giảm lòng tin của người dân vào chính quyền. Tất cả những hình thức này đều thể hiện sự nguy hiểm của tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân và cần được các cơ quan chức năng xử lý một cách nghiêm túc để bảo vệ an ninh quốc gia.

5.1. Vụ án khủng bố ở Đắk Lắk (2023-2024)

Đây là một trong những vụ án điển hình và nghiêm trọng nhất về Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân trong thời gian gần đây.

  • Bối cảnh: Vụ việc đặc biệt nghiêm trọng xảy ra vào đêm 10/6, rạng sáng 11/6/2023, khi gần 100 đối tượng là người dân tộc thiểu số, chia thành hai nhóm, đã tấn công trụ sở xã Ea Ktur và Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
  • Hậu quả: Vụ tấn công gây ra hậu quả thảm khốc, làm 4 cán bộ công an xã bị sát hại và 2 cán bộ công an xã bị thương. Trên đường rút chạy, các đối tượng tiếp tục phá hoại tài sản của người dân, uy hiếp 3 người dân làm con tin, và sát hại thêm 2 cán bộ xã Ea Ktur, Ea Tiêu cùng 3 người dân khác.
  • Mục đích: Mục đích của vụ tấn công này được xác định rõ ràng là nhằm lật đổ chính quyền nhân dân để thành lập cái gọi là “Nhà nước Đêga”. Mục đích này là dấu hiệu cốt lõi để định tội theo Điều 113 BLHS.
  • Xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã xét xử 100 bị cáo trong vụ án này. Trong đó, 53 bị cáo bị truy tố và xét xử về tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" (Điều 113 BLHS), 45 bị cáo về tội "Khủng bố" (Điều 299 BLHS), và các tội danh khác như "Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép" và "Che giấu tội phạm".
  • Bản án: Hội đồng xét xử đã tuyên phạt mức án cao nhất là tù chung thân đối với 10 bị cáo. Các bị cáo khác bị tuyên phạt từ 9 tháng tù đến 20 năm tù tùy theo tính chất, mức độ, vai trò, hành vi cụ thể, các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng của từng bị cáo.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ như việc các bị cáo thừa nhận hành vi, ăn năn hối cải, đa số là người dân tộc thiểu số trình độ học vấn thấp, bị lôi kéo, kích động bởi các phần tử bên ngoài, thuộc hộ nghèo/cận nghèo, hoặc có thân nhân có công với cách mạng. Điều này thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với những người bị lợi dụng, lôi kéo.

5.2. Vụ án Trương D - Vụ nổ Cục thuế Bình Dương (2019-2020)

  • Bối cảnh: Vụ nổ tại Cục thuế Bình Dương vào sáng ngày 30/9/2019 được xác định là hành vi khủng bố do Trương Dương thực hiện.
  • Chỉ đạo: Trương Dương đã thực hiện hành vi này theo chỉ đạo của Lisa Phạm, một thành viên của tổ chức khủng bố "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời". Tổ chức này đã bị Bộ Công an Việt Nam xác định là tổ chức khủng bố và ra quyết định khởi tố bị can, truy nã các đối tượng cầm đầu như Đào Minh Quân, Phạm Thị Anh Đào (tức Lisa Phạm) và 5 người khác đang sinh sống tại Mỹ và Canada về tội Khủng bố chống chính quyền nhân dân.
  • Định tội: Trương Dương bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dương khởi tố về tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" theo Điều 113 BLHS.
  • Bản án: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã xét xử sơ thẩm vụ án này, với Bản án số 15 ngày 07/08/2020.

5.3. Vụ án Hồ Văn Việt và đồng phạm tại Khánh Hòa (2025)

  • Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã tuyên phạt 2 bị cáo Hồ Văn Việt (3 năm tù) và Đặng Minh Dũng cùng về tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" theo Điều 113 BLHS.

Các vụ án trên là những minh chứng cụ thể cho việc áp dụng Điều 113 BLHS trong thực tiễn xét xử, đặc biệt là trong việc xác định mục đích "chống chính quyền nhân dân" và xử lý các hành vi có tổ chức, chuẩn bị, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.

Kết luận và kiến nghị

Điều 113 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) về "Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" là một quy định pháp luật quan trọng, thể hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và sự ổn định của chế độ. Sự thay đổi và bổ sung so với BLHS 1999 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, bao gồm các hành vi mới như tấn công mạng, tổ chức, tài trợ khủng bố, và hành vi chuẩn bị phạm tội, phản ánh sự thích ứng với các mối đe dọa khủng bố hiện đại.

Mục đích "chống chính quyền nhân dân" là dấu hiệu phân biệt cốt lõi của tội danh này với Tội khủng bố thông thường (Điều 299 BLHS). Thực tiễn xét xử, như vụ án Đắk Lắk và Bình Dương, cho thấy việc áp dụng Điều 113 là cần thiết và hiệu quả trong việc xử lý các hành vi có tính chất chính trị, nhằm lật đổ chính quyền.

Để nâng cao hiệu quả và tính thống nhất trong việc áp dụng Điều 113 BLHS, các kiến nghị sau đây được đưa ra:

Về hoàn thiện pháp luật:

  • Cần có các văn bản hướng dẫn chi tiết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hoặc liên ngành (như Thông tư liên tịch) để làm rõ các khái niệm, đặc biệt là cách xác định và chứng minh "mục đích chống chính quyền nhân dân" trong các trường hợp cụ thể. Điều này sẽ giúp đảm bảo sự thống nhất và chính xác trong áp dụng pháp luật, giảm thiểu những tranh cãi và khó khăn trong thực tiễn.
  • Xem xét lại kỹ thuật lập pháp tại Khoản 2 Điều 113 để phân hóa trách nhiệm hình sự rõ ràng hơn giữa các hành vi có tính chất khác nhau (trực tiếp gây hại, tổ chức, chuẩn bị). Việc này sẽ đảm bảo tính công bằng và phù hợp với mức độ nguy hiểm của từng hành vi, tránh việc áp dụng hình phạt không tương xứng.
  • Làm rõ hơn quy định tại Khoản 4 Điều 113 về khủng bố cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế. Cần bổ sung các khung hình phạt hoặc tiêu chí xác định hậu quả khi hành vi không trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người mà chủ yếu gây khó khăn cho quan hệ quốc tế hoặc thiệt hại cho tổ chức, để đảm bảo tính khả thi và đầy đủ của điều luật.

Về thực tiễn áp dụng:

  • Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho các cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán về việc xác định mục đích phạm tội trong các vụ án liên quan đến an ninh quốc gia, đặc biệt là khi có sự chồng chéo với các tội danh khác. Việc này sẽ nâng cao năng lực chuyên môn và đảm bảo việc định tội chính xác.
  • Khuyến khích việc công bố rộng rãi các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật liên quan đến Điều 113 BLHS để làm nguồn tham khảo cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật. Điều này sẽ góp phần hình thành các án lệ thực tiễn, tạo tiền đề cho sự thống nhất trong xét xử.
  • Tiếp tục áp dụng chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với các đối tượng bị lôi kéo, kích động, có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng cầm đầu, chủ mưu, tái phạm nguy hiểm. Việc này thể hiện sự cân bằng giữa tính nghiêm minh của pháp luật và chính sách nhân văn của Nhà nước.

Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn.