Lúc đầu tôi chỉ muốn giao dịch mua bán một con mèo Anh lông dài bình thường giá là 8 triệu đồng, tôi đã giao tiền đầy đủ nhưng bên kia không trả hàng cho tôi, rồi sau đó tôi có gọi giục nhưng bị chặn số điện thoại và chặn luôn cả facebook, và sau này tôi mới biết là người này đã lừa rất nhiều người như vậy rồi hcứ không phải riêng mình tôi! Thưa luật sư bây giờ tôi phải làm gì để có thể tố cáo người A kia và đây có phải tội lừa đảo hay không? Xin cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Bộ luật tố tụng hình sự 2015

2. Nội dung tư vấn:

2.1 Lừa đảo và các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là như thế nào?

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

>> Xem thêm:  Tư vấn về cách giải quyết khi bạn mượn xe không trả ?

- Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.

Dấu hiệu khác: Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên. Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

>> Xem thêm:  Vướng mắc về cho bạn mượn xe rồi không trả mà đem cầm cố tài sản thì nên xử lý thế nào cho hợp pháp ?

2.2 Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là như thế nào?

Theo Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

- Tố giác của cá nhân;

- Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

- Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

- Người phạm tội tự thú.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể làm đơn trình báo lên công an điều tra hình sự cấp quận/huyện nơi bạn đang cư trú hợp pháp để được giải quyết.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hỏi về cách làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo tiền xin việc làm ? Hình phạt đối với tội lừa đảo

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự

>> Xem thêm:  Tin nhắn điện thoại có được coi là chứng cứ ? Cách xác định chứng cứ