1. Tội lừa đảo CĐTS qua mạng Facebook ?
>> Luật sư hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
1. Lừa đảo và các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là như thế nào ?
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
- Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư, email, tin nhắn,...), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự
- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng (Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự 2015) đều có dấu hiệu gian dối.
Dấu hiệu khác: Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên. Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.
2. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là như thế nào ?
Theo Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
- Tố giác của cá nhân;
- Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
- Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
- Người phạm tội tự thú.
Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể làm đơn trình báo lên công an điều tra hình sự cấp xã/ phường nơi bạn đang cư trú hợp pháp để được giải quyết.
Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.
2. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Luật sư tư vấn:
Trường hợp này bạn muốn xin việc vào 1 cơ quan, tổ chức bạn phải thực hiện theo yêu cầu về hồ sơ của cơ quan, tổ chức đó. Bạn tới sở tư pháp nơi bạn cư trú để đề nghị cấp phiếu lý lịch tư pháp cho bạn.
Thưa luật sư, xin hỏi: Cho em hỏi là vừa qua em bị lừa tiền chạy môn trên mạng với số tiền là 7.5 triệu. Liệu bây giờ em báo công an thì có ảnh hưởng gì không ạ. Em còn giữ biên lai ngân hàng và có số tài khoản người lừa đó ạ.
Trường hợp này nếu bạn báo công an bạn phải cung cấp các thông tin về người đó để tố cáo hành vi lừa đảo. Việc tố cáo không làm ảnh hưởng tới bạn tuy nhiên lại chứng minh bạn có chạy môn trên mạng.
Thưa luật sư, xin hỏi: Anh A có mượn em một chiếc xe máy ( có cả giấy tờ) để cho vợ đi làm nhưng sau đó anh A lại mang nó đi cắm thì e nên viết đơn trình báo công an thế nào ?
Về việc này bạn gửi đơn tố cáo tới cơ quan công an hoặc khởi kiện A ra Tòa án nơi A cư trú về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).
Trong đơn tố cáo cần có nội dung chính gồm:
+ Tên cơ quan nhận đơn;
+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;
+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (nếu có);
+ Họ, tên, địa chỉ của người bị tố cáo;
+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;
+ Nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan tiếp nhận Đơn tố cáo giải quyết và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc tố cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Trân trọng ./.
3. Xử lý lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài 24/7: 1900.6162
Trả lời:
Theo như nội dung mà bạn trình bày, bạn đã chuyển tiền nhưng người bán hàng lại chưa giao điện thoại cho bạn. Và bạn vẫn tiếp tục không liên lạc được với người bán hàng thì bạn có thể tố cáo với cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.
5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Bạn cần cung cấp đầy đủ các thông tin cho bên cơ quan tiếp nhận tin báo như: thông tin về người bán hàng, bằng chứng tiến hành giao dịch...Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh để làm rõ có hay không dấu hiệu của hành vi phạm tội trong trường hợp này. Nếu có dấu hiệu phạm tội họ sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho bạn.
Nếu sau quá trình điều tra, truy tố, xét xử xác định được bên bán có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự như sau theo quy định của Bộ luật hình sự 2015
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại. .
Bạn đã gửi cho họ 2.200.000 đồng. Như vậy, nếu đây là một hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
>> Bạn có thể tham khảo: Mẫu đơn tố cáo.
4. Bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Thưa luật sư! Tôi có một vấn đề mong được luật sư giải đáp. sự việc là tôi đã bị lừa số tiền 1.000.000.000 đồng, (người lừa tôi tên D). Sự việc là vào tháng 6/2016, D nói có quen ông X bên doanh nghiệp nước ngoài có muốn xin việc cho con gái thì D sẽ đưa ra nhà gặp ông X nói chuyện. Ông X ở cùng làng và cũng biết ông ấy nên tôi rất tin tưởng.
>> Luật sư tư vấn luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối, lợi dụng lòng tin tín nhiệm làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó. Như vậy việc ông D lừa bạn để bạn đưa 1 tỷ cho ông X ( giả mạo) để chạy việc cho con bạn là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự. Bạn có thể khởi kiện ra tòa để đòi lại số tiền đó nhưng bạn phải xác định được rõ ông D và ông X đang đăng ký thường trú ở đâu để lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trả lời:
Theo Điều 91 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, người 14 tuổi vẫn có thể bị xử phạt hành chính với hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản.
Nếu xảy ra thiệt hại, người 14 tuổi phải bồi thường cho người bị lừa đảo theo quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thế như sau:
- Người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Do đó, con trai bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng có thể bị phạt hành chính. Và vợ chồng bạn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con trai bạn gây ra.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê