1. So sánh tội lừa đảo và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Phân biệt hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có tác dụng nhận thức đúng đắn về đặc điểm pháp lý của hai tội, không nhầm lẫn. Về thực tiễn phân biệt tìm ra sự khác nhau giữa hai tội có tác dụng đảm bảo định tội chính xác, truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của mỗi tội, không làm oan sai người phạm tội.

Trả lời:

Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo điểm a, khoản 2, điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định : "Sửa đổi cụm từ “năm trăm nghìn đồng” thành cụm từ “hai triệu đồng” tại khoản 1 các điều 139".

Điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 1, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: "Sửa đổi cụm từ “một triệu đồng” thành cụm từ “bốn triệu đồng” tại khoản 1 và bỏ từ “trên” tại điểm d khoản 2 Điều 140;"

Tội lừa đảo và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giống nhau và khác nhau như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tàu sản giống nhau và khác nhau như thế nào?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 139 và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 140 BLHS có nhiều điểm giống nhau nhưng đây là hai tội độc lập, hoàn toàn khác nhau.

Sự giống nhau của hai tội thể hiện như sau:

+ Cả hai tội lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tàu sản đều xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu đối với tài sản;

+ Mặt khách quan của cả hai tội đều được thực hiện bằng phương pháp hành động, đều thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hai tội này đều dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Cả hai tội đều được coi là hoàn thành từ khi chiếm đoạt được tài sản.

+ Mặt chủ quan của tội lừa đảo và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều có hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội đều thấy trước hành vi lừa đảo hoặc hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đều gây thiệt hại cho quyền sở hữu của chủ tài sản, tuy nhiên người phạm tội đều mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác với mục đích vụ lợi.

+ chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều là bất kỳ người nào, đủ độ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

+ Để truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội này, điều luật đều quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị thấp hơn mức quy định thì đòi hỏi người thực hiện hành vi phải đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc hành vi chiếm đoạt tài sản gây hậu quả nghiêm trọng.

+ Hình phạt quy định tại khoản 5 của hai tội trên hoàn toàn giống nhau: người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.

Sự khác nhau của hai tội thể hiện như sau:

+ Hai tội khác nhau về giá trị của tài sản bị chiếm đoạt quy định trong khoản 1 của hai điều luật. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt ở tội lừa đảo là từ 500.000 đồng trở lên; Giá trị tài sản bị chiếm đoạt ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là từ 1.000.000 đồng trở lên.

+ Thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của hai tội này hoàn toàn khác nhau. Người lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng thủ đoạn gian dối gây lòng tin đối với chủ tài sản, làm chủ tài sản tin tưởng người phạm tội mà trao tài sản cho họ. Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội lừa đảo phải dùng thủ đoạn gian dối trước. Chính thủ đoạn gian dối là nguyên nhân làm người có tài sản tin tưởng mà trao tài sản. Thủ đoạn gian dối là nguyên nhân nhận được tài sản của người khác để chiếm đoạt tài sản ấy. Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn khác với người lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặc dù sự chiếm đoạt tài sản có tính chất gian dối. Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng cách vay, mượn, thuê, hợp đồng với chủ tài sản để chủ tài sản giao tài sản cho người phạm tội. Họ nhận được tài sản từ chủ tài sản một cách hợp pháp , ngay thẳng. Sau khi nhận được tài sản người phạm tội mới thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản ấy. Sự gian dối chiếm đoạt tài sản sảy ra sau khi nhận được tài sản nên lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là bội tín (phản bội lòng tin ) của chủ tài sản.

+ Hình phạt quy định với tội lừa đảo nặng hơn so với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hình phạt cao nhất với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tử hình; Hình phạt cao nhất với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tù chung thân.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Xử lý hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh ? Mẫu đơn tố cáo tội lừa đảo

2. Khởi kiện hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư Minh Khuê ! ôi là một tiểu thương mua bán tại chợ. Cách đây gần một tháng có một người phụ nữ tầm 55-60 tuổi nói là quê An Giang ( chưa xác thực) và hành nghề bỏ sỉ đường, đậu cho các tiệm tạp hóa, người này đem thuốc "ngầu hầm" (1 dạng thuốc hút) lại cho tôi bán và nói là bán xong thì trả tiền sau:
Tôi treo lên bán thì có vài người mua, trong đó có một người đàn ông tầm 50 ngoài tuổi nói ở Xáng 3 ( chưa xác thực) lại mua khoảng 3-4 lần và lần nào cũng mua hết, ông ta còn hứa hẹn sẽ mua số lượng nhiều để bán cho những người đi biển. Ngày 12/5/2016 , người phụ nữ trên lại bỏ thuốc cho tôi, bà ta nói rằng khoảng 4 tháng nữa mới xuống một lần nên nói tôi lấy đủ bán, lúc đó người đàn ông kia cũng gọi điện và đặt tôi 6 cây thuốc, 1 cây bán ra được 500.000 và hứa hẹn một tuần mua một lần với lí do như trên. Thấy mua và bán cũng nhiều lần nên tôi lấy 5 bao với 125 cây thuốc, 1 cây giá vốn là 380 ngàn đồng , tổng số tiền mua là 47.500.000.
Sau đó bà ta kêu tôi trả trước 17.500.000, phần còn lại ( 30.000.000) sẽ trả sau khi bà ta xuống, nếu không bán hết thuốc có thể trả lại. Vì mua bán đã quen nên khi bà ta giạo 5 bao thuốc thì tôi trả 17.500.000 nhưng khi tôi kiểm tra các bao thuốc thì hầu như cây thuốc nào cũng có pha lá khô vụn vào, lúc này tôi gọi điện thoại thì ba ta hứa sẽ quay lại đổi nhưng sau đó đi mất, còn người đàn ông mua thuốc kia cũng không quay lại lấy thuốc như đã hứa. Hiện tại tôi chỉ có 2 số điện thoại của người bán thuốc và người đàn ông mua thuốc mà tôi nghi là có móc nối với người phụ nữ kia lưà gạt tôi. Ngoài ra tôi còn có hình của người phụ nữ kia .
Vậy tôi có thể khởi kiện 2 đối tượng trên về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Xin chân thành cảm ơn quý Luật sư !

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin mà bạn đưa ra, bạn cho rằng người bán thuốc này có dấu hiệu lừa đảo trong việc bán thuốc tức là có dấu hiệu tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 (văn bản thay thế: Bộ luật hình sự năm 2015 ) như sau :

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Vậy người phạm tội lừa đảo chiềm đoạt tài sản phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối , đưa ra thông tin giả nhằm mục đích cho nạn nhân tin và giao tài sản cho mình . Ở đây người bán thuốc đã câu kết với người đóng giả làm khách mua thuốc nhằm lừa dối bạn và khiến bạn mua thuốc giả của họ đã cấu thành tội lừa đảo chiềm đoạt tài sản .

Mătj khác ,người này bán thuốc giả cho bạn với tổng giá trị đơn hành là 47.500.000 đồng nên bạn cũng có thể tố cáo hành vi sản xuất buôn bán hàng giả của người này theo điều 156 BLHS :

1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng hoặc dưới ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ một trăm năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

g) Thu lợi bất chính lớn;

h) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Việc khởi tố vụ án này , tuy bạn không biết thông tin gì về người đã giao dịch với bạn , bạn có thể làm đơn yêu cầu gửi lên công an cấp quận, huyện nơi bạn có hộ khẩu thường trú kèm theo các bằng chứng ( như thuốc giả , hình ảnh của người đó , số điện thoaij ) để được điều tra và giải quyết .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Hỏi về tội lừa đảo chiểm đoạt tài sản ?

Kính thưa quý luật sư! Cho tôi hỏi vấn đề như sau: Theo Bộ luật hình sự vừa được thông qua tại kỳ họp Quốc hội vừa qua thì: Nếu trường hợp tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đang chấp hành hình phạt là chung thân, sau khi BLHS có hiệu lực từ 1/7/2016 thì có được chuyển xuống khung hình phạt cao nhất là 20 năm không ạ?
Xin chân thành cảm ơn.

>> Tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 (văn bản mới thay thế: Bộ luật hình sự 2015) quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại khoản 4 Điều 139 như sau:

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Theo đó, mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản này là đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Trong dự thảo Bộ luật hình sự 2015 sẽ có hiệu lực vào 1/7/2016 sắp tới quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại khoản 4 Điều 174:

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh.
Theo đó, mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản này là đến 20 năm.
Như vậy, Theo Bộ luật hình sự vừa được thông qua tại kỳ họp Quốc hội vừa qua thì: Nếu trường hợp tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đang chấp hành hình phạt là chung thân, sau khi BLHS có hiệu lực từ 1/7/2016 thì không được chuyển xuống khung hình phạt cao nhất là 20 năm. Mà theo Bộ luật hình sự 2015 thì mức cao nhất của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đến 20 năm tù, bỏ hình phạt tù chung thân hoặc tử hình. Vậy nếu phạm tội khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thì sẽ áp dụng quy định này, còn nếu phạm tội trước đó vẫn tiếp tục áp dụng hình phạt tù cao nhất là đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Mức hình phạt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Trước hết em xin cảm ơn luật sư và nhờ luật sư giải đáp thắc mắc cho em hiểu về hành vi anh của em. Tình tiết là như sau. Anh của em do mở cty làm ăn thất bại nên nợ nằng nhìều lắm. Nên 2 vợ chồng anh em đã làm giấy tờ giả để thuê xe oto đem đi cầm với số tiền cầm cố những chiếc xe oto đã cầm cho nhiều người là 3 tỷ đồng. Nhưng anh của em đã mất khả năng trả nợ để chuộc xe ra nên anh em đã bỏ trốn được 1 thời gian cho mọi chuyện nguôi ngoai rồi đi làm kiếm tiền trả nợ cho người bị hại.
Nhưng khi anh em biết tin có lệnh truy nã và anh em xin về đầu thú để hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Nhưng trước khi ra đầu thú anh của em có điện thoại gặp mặt trao đổi với những người bị hại để họ thông cảm và cho con đường sống để làm trả nợ. Và những người bị hại đã đồng ý và tha lỗi cho anh em. Họ hứa khi ra tòa sẽ yêu cầu tòa không truy cứu gì hết và chỉ mong anh em được nhẹ án để sao này đi làm kiếm tiền trả họ. Và đồng thời yêu cầu truy cứu vợ anh của em vì chị kia người ta biết là mọi chuyện không phải anh này muốn và làm nên muốn truy cứu chị kia.
Vậy xin hỏi luật sư anh của em phải chịu mức án thế nào và vợ của anh em cũng vậy. Và có được giảm nhẹ không hay không phải truy cứu trách nhiệm hình sự ?
Mong luật sư tư vấn tận tình giúp đở gia đình em thành thật cảm ơn.Cảm ơn luật sư rất nhiều.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bạn nói 2 vợ chồng anh em đã làm giấy tờ giả để thuê xe oto. Như vậy hai vợ chồng anh trai bạn đã phạm tội quy định tại Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 là tội làm giả con dấu .tài liệu của cơ quan tổ chức.

Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

A) Có tổ chức;

B) Phạm tội nhiều lần;

C) Gây hậu quả nghiêm trọng;

D) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Khi anh bạn làm giả giấy tờ để đi thuê xe và sau đó cầm cố chiếc xe đó cho nhiều người được 3 tỷ,khi anh bạn không có khả năng trả nợ và chuộc xe anh bạn đã bỏ chốn.Như vậy hành vi của anh trai bạn đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi của Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác

Theo điều 139 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung ngày 19/06/2009 thì hành vi vi phạm nêu trên được quy định như sau:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy trường hợp này của anh bạn đã vi phạm vào quy định tại khoản 4 và có thể bị phạt tù 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Như vậy vợ chồng anh trai bạn đã phạm phải 2 tội theo quy định của bộ luật hình sự.Mức hình phạt sẽ do tòa án căn cứ vào mức đọ phạm tội,nhân thân ,sự xám hối của tội phạm mà tòa án quyết định đưa ra hình phạt,

Bạn hỏi về trường hợp được giảm nhẹ.Nếu như anh trai của bạn được tất cả những người đồng ý kiện anh trai ban rút đơn khởi kiện thì anh trai ban sẽ có thể không phải chịu hình phạt theo Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:

Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104(cố ý gây thương tích), 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121( tội làm nhục người khác), 122 ( tội vu khống) , 131 và 171 ( tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Theo như khoản 2 Điều 105 thì trước thời gian diễn ra phiên tòa sơ thẩm những người viết đơn kiện anh bạn đồng ý rút đơn yêu cầu khởi tố thì anh trai bạn sẽ không phải chịu hình phạt quy định ở hai tội trên.Như vậy anh trai bạn cần phải có sự đồng ý của những người đã kiện anh bạn rút đơn khởi tố thì anh bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

5. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, luật sư có thể trả lời giúp tôi 1 vấn đề được không? Tôi có giao dịch bán hàng với 1 người ở xa, người đó lấy hàng của tôi nhưng lại không chịu thanh toán, còn nói ở trên mạng đi lừa đảo là chuyện bình thường.
Tôi cũng biết nhưng vì là khách quen nên mới tin tưởng, giờ người đó không chịu trả tiền, tôi không có nhiều chứng cứ chỉ có cuộc nói chuyện về số hàng và số tiền mà người đó mua và phải trả, vậy cuộc nói chuyện được có thể xem là chứng cứ được không? Và nếu như người đó không chịu trả tiền tôi có thể kiện người đó tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? Số tiền hơn 6 triệu chính xác là 6.300.000 ngàn đồng.
Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn về pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về hợp đồng mua bán mà hai bên đã xác lập:

Theo Bộ luật dân sự 2005 có quy định

Điều 428. Hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.

Pháp luật không có quy định cụ thể bắt buộc về hình thức của hợp đồng mua bán tài sản, trừ một số loại hợp đồng mua bán tài sản đặc biệt (VD: quyền sử dụng đất). Do đó, hợp đồng giao dịch mua bán hàng hóa của hai người đã được xác lập và được pháp luật bảo vệ về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Cụ thể:

Điều 438. Nghĩa vụ trả tiền

1. Bên mua phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm giao tài sản.

2. Bên mua phải trả lãi, kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 305 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Ở đây, bên mua đã không trả tiền đúng quy định do đó đã trực tiếp xâm hại tới quyền của bên bán. Do đó, bạn với tư cách là người bán hoàn toàn có thể yêu cầu bên mua trả số tiền mua hàng, đồng thời có thể đòi khoản lãi do bên mua trả chậm tính theo số ngày trả chậm.

Thứ hai, về vấn đề khởi kiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Theo Bộ luật hình sự 1999 Điều 139 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Dựa trên những thông tin mà bạn cung cấp, bên mua nhận hàng nhưng không trả tiền và lấy lí do “ở trên mạng đi lừa đảo là chuyện bình thường”. Có thể thấy, bên mua đã lợi dụng lòng tin và thông qua hợp đồng mua bán miệng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bạn, số tiền cụ thể là 6.300.000 ngàn đồng. Những hành vi và giá trị tài sản nêu trên đã đầy đủ và phù hợp với cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện ra tòa để đòi lại tiền và tố cáo tội danh của bên mua.

Thứ ba, về chứng cứ:

Theo Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

Điều 64. Chứng cứ

1. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

2. Chứng cứ được xác định bằng:

a) Vật chứng;

b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Kết luận giám định;

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Như vậy, để cuộc nói chuyện về số hàng và số tiền mà người đó mua và phải trả của bạn trở thành chứng cứ, khi khởi kiện, bạn cần nộp kèm bản ghi âm cuộc nói chuyện nêu trên để cơ quan điều tra tiến hành xác minh, chứng thực và giám định để khẳng định tính chân thực của cuộc nói chuyện này. Ngoài ra, bạn có thể nộp kèm một số chứng cứ khác trước tòa, ví dụ như giấy tờ vận chuyển hàng hóa (nếu có) để thông tin về vụ việc thêm rõ ràng và minh bạch.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo