- 1. Các yếu tố cấu thành tội sản xuất, buôn bán thuốc giả
- 1.1. Khách thể của tội phạm
- 1.2. Mặt khách quan của tội phạm
- 1.2.1. Hành vi
- 1.2.2. Đối tượng của tội phạm
- 1.2.3. Hậu quả và thời điểm hoàn thành tội phạm
- 1.3. Chủ thể của tội phạm
- 1.4. Mặt chủ quan của tội phạm
- 2. Khung hình phạt tội sản xuất, buôn bán thuốc giả
- 2.1. Khung hình phạt đối với cá nhân
- 2.2. Khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại
- 2.3. Các hình phạt bổ sung
- 2.4. Xử phạt vi phạm hành chính
- 2.5 Mục đích của pháp luật quy định các hình phạt và biện pháp trừng phạt
- 3. So sánh với các tội danh tương tự và bài học kinh nghiệm từ pháp luật quốc tế
- 3.1. So sánh các tội danh sản xuất, buôn bán hàng giả
- 3.2. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật quốc tế
- 4. Quy trình tố tụng và thực tiễn áp dụng pháp luật
- 4.1. Phân tích các vụ án điển hình
- 4.2. Tổng hợp, thống kê tình hình tội phạm
- 4.3. Những khó khăn, vướng mắc gặp phải
- 5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
- Kết luận
Tội danh này thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là Chương XVIII của Bộ luật Hình sự. Vị trí này cho thấy Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng việc bảo vệ trật tự quản lý thị trường và an toàn dược phẩm. Mặc dù là một tội danh thuộc nhóm tội kinh tế, bản chất nguy hiểm của nó lại vượt ra khỏi phạm vi kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người.
Hành vi sản xuất, buôn bán thuốc giả không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà còn trực tiếp gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe của cộng đồng. Việc sử dụng thuốc giả, thuốc kém chất lượng có thể dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, từ việc điều trị bệnh không hiệu quả, gây biến chứng, cho đến tử vong. Hành vi này không chỉ hủy hoại sức khỏe mà còn làm xói mòn niềm tin của người dân vào hệ thống y tế, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của các doanh nghiệp dược phẩm chân chính. Do mức độ nguy hiểm cao và tính chất đặc thù của đối tượng tác động, tội danh này bị xử lý với khung hình phạt rất nghiêm khắc, bao gồm cả hình phạt tử hình, một mức án hiếm gặp trong nhóm tội phạm về kinh tế.
Các quy định pháp luật về xử lý hành vi làm hàng giả, buôn bán hàng giả đã có từ rất sớm trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, chẳng hạn như Pháp lệnh số PL/1982 về trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép và sau đó được kế thừa trong Bộ luật Hình sự 1985 và Bộ luật Hình sự 1999. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý là sự thay đổi trong kỹ thuật lập pháp của BLHS 2015. Thay vì gộp chung tất cả các loại hàng giả vào một điều luật duy nhất như trước đây, BLHS 2015 đã có sự phân hóa rõ ràng, dành hẳn các điều luật riêng biệt cho từng loại hàng giả khác nhau: Điều 192 cho hàng giả thông thường, Điều 193 cho lương thực, thực phẩm và phụ gia thực phẩm, và đặc biệt là Điều 194 cho thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh. Sự phân hóa này phản ánh nhận thức sâu sắc của nhà làm luật về tính chất nguy hiểm đặc biệt của việc làm giả thuốc, một loại hàng hóa không phải là sản phẩm tiêu dùng thông thường mà có liên quan mật thiết đến sức khỏe, thậm chí là sự sống còn của con người.
1. Các yếu tố cấu thành tội sản xuất, buôn bán thuốc giả
1.1. Khách thể của tội phạm
Tội danh "Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh" có khách thể kép, tức là nó xâm hại đến nhiều loại quan hệ xã hội cùng một lúc.
Khách thể chung: Tội phạm này xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh dược phẩm.
Khách thể trực tiếp: Đồng thời, nó trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng. Đây là yếu tố phân biệt cơ bản của tội danh này với các tội danh hàng giả khác. Hành vi phạm tội còn gây thiệt hại về tài sản, uy tín và quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc thật. Việc phân tích khách thể kép này giúp lý giải tại sao Điều 194 có khung hình phạt cao hơn và mức độ nghiêm trọng hơn hẳn so với Điều 192 (sản xuất, buôn bán hàng giả là hàng hóa thông thường). Mối quan hệ nhân quả tiềm tàng giữa hành vi phạm tội và hậu quả đối với sức khỏe con người là yếu tố then chốt làm nên sự khác biệt này.
1.2. Mặt khách quan của tội phạm
1.2.1. Hành vi
Mặt khách quan của tội phạm được biểu hiện thông qua hai loại hành vi chính:
- Sản xuất hàng giả: Là hành vi làm ra thuốc giả, có thể là làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh hoặc chỉ tham gia vào một công đoạn cụ thể như chế tạo, in ấn, gia công, đóng gói.
- Buôn bán hàng giả: Là hành vi mua đi bán lại, chào hàng, quảng cáo, lưu giữ, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu các loại thuốc giả nhằm thu lời bất chính.
Trong trường hợp một người vừa sản xuất vừa buôn bán thuốc giả do chính mình làm ra, pháp luật hình sự sẽ coi đó là một tội danh duy nhất là "sản xuất, buôn bán hàng giả". Đối với các vụ án phức tạp với nhiều đối tượng tham gia, các đối tượng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tư cách là đồng phạm theo Điều 17 BLHS, đặc biệt trong các đường dây, tổ chức tội phạm.
1.2.2. Đối tượng của tội phạm
Đối tượng của tội phạm này là "hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh". Đây là dấu hiệu đặc trưng bắt buộc để cấu thành tội phạm theo Điều 194. Khái niệm "hàng giả" trong lĩnh vực này được quy định chi tiết trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, ví dụ như Nghị định số 98/2020/NĐ-CP.
1.2.3. Hậu quả và thời điểm hoàn thành tội phạm
Tội phạm này được coi là hoàn thành ngay từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong hai hành vi "sản xuất" hoặc "buôn bán" thuốc giả, không yêu cầu hậu quả về sức khỏe hay tài sản phải xảy ra. Tuy nhiên, hậu quả thực tế về tài sản (thu lợi bất chính, thiệt hại), sức khỏe (thương tích), hoặc tính mạng (làm chết người) sẽ là các tình tiết định khung hình phạt, quyết định mức độ nghiêm khắc của bản án.
1.3. Chủ thể của tội phạm
Tội danh này có thể được thực hiện bởi hai loại chủ thể:
Chủ thể cá nhân: Là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Chủ thể pháp nhân thương mại: BLHS 2015 đã bổ sung trách nhiệm hình sự cho pháp nhân thương mại. Điều này cho phép cơ quan tố tụng xử lý toàn diện hơn các đường dây sản xuất, buôn bán thuốc giả quy mô lớn, có sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp được thành lập hợp pháp.
1.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi sản xuất hoặc buôn bán thuốc của mình là nguy hiểm cho xã hội, biết rõ đó là thuốc giả nhưng vẫn mong muốn thực hiện. Động cơ chính của tội phạm là mục đích vụ lợi, nhằm thu lợi bất chính thông qua việc kinh doanh thuốc giả. Trong thực tiễn xét xử, việc xác định lỗi cố ý và mục đích vụ lợi thường dựa vào các yếu tố khách quan như giá mua vào và bán ra, nguồn gốc hàng hóa (thường không rõ ràng), cũng như trình độ chuyên môn của người phạm tội. Chẳng hạn, một dược sĩ hoặc chủ nhà thuốc có chuyên môn cao sẽ dễ bị xác định lỗi cố ý hơn một người không có hiểu biết về dược phẩm.
2. Khung hình phạt tội sản xuất, buôn bán thuốc giả
Nội dung Điều 194 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 được quy định như sau:
Điều 194. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh
1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Phạm tội qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại;
g) Hàng giả trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;
h) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;
i) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
k) Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
l) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%;
m) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Hàng giả có giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn 200.000.000 đồng trở lên;
b) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá 500.000.000 đồng trở lên trong trường hợp không xác định được giá thành sản xuất, giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;
c) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng;
d) Làm chết người;
đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
e) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Thu lợi bất chính 2.000.000.000 đồng trở lên;
b) Làm chết 02 người trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;
đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 4.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 9.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 15.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
2.1. Khung hình phạt đối với cá nhân
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh quy định bốn khung hình phạt chính đối với cá nhân, được quy định từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều 194 BLHS 2015.
| Khung hình phạt | Mức phạt | Các tình tiết định khung |
| Khung 1 (Khoản 1) | Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm | Hành vi sản xuất, buôn bán thuốc giả (cấu thành cơ bản). |
| Khung 2 (Khoản 2) | Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm | - Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Phạm tội qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại. - Hàng giả trị giá từ 100 triệu đến dưới 200 triệu đồng (giá bán/niêm yết) hoặc tương đương từ 150 triệu đến dưới 500 triệu đồng (nếu không xác định được giá bán). - Thu lợi bất chính từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng. - Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 1 người với tỷ lệ 31% đến 60% hoặc cho 2 người trở lên với tổng tỷ lệ từ 31% đến 60%. - Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng. |
| Khung 3 (Khoản 3) | Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm | - Hàng giả trị giá từ 200 triệu đồng trở lên (giá bán/niêm yết) hoặc tương đương 500 triệu đồng trở lên (nếu không xác định được giá bán). - Thu lợi bất chính từ 500 triệu đến dưới 2 tỷ đồng. - Làm chết 1 người. - Gây tổn hại sức khỏe cho 1 người với tỷ lệ 61% trở lên hoặc cho 2 người trở lên với tổng tỷ lệ từ 61% đến 121%. - Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đến dưới 1.5 tỷ đồng. |
| Khung 4 (Khoản 4) | Phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình | - Thu lợi bất chính 2 tỷ đồng trở lên. - Làm chết 2 người trở lên. - Gây tổn hại sức khỏe cho 2 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên hoặc tổng tỷ lệ từ 122% trở lên. - Gây thiệt hại về tài sản 1.5 tỷ đồng trở lên. |
2.2. Khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại
Tội danh này quy định hình phạt riêng cho pháp nhân thương mại tại Khoản 6 Điều 194 BLHS, phản ánh sự thay đổi quan trọng trong chính sách hình sự của Việt Nam.
| Khung hình phạt | Mức phạt | Các tình tiết định khung |
| Khung 1 | Phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 4 tỷ đồng | Phạm tội theo Khoản 1 Điều 194. |
| Khung 2 | Phạt tiền từ 4 tỷ đồng đến 9 tỷ đồng | Phạm tội theo một trong các trường hợp tại Khoản 2 Điều 194. |
| Khung 3 | Phạt tiền từ 9 tỷ đồng đến 15 tỷ đồng | Phạm tội theo một trong các trường hợp tại Khoản 3 Điều 194. |
| Khung 4 | Phạt tiền từ 15 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 1 đến 3 năm | Phạm tội theo một trong các trường hợp tại Khoản 4 Điều 194. |
| Khung 5 | Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn | Phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, an ninh, trật tự xã hội và không còn khả năng khắc phục hậu quả, hoặc pháp nhân được thành lập chỉ để phạm tội. |
2.3. Các hình phạt bổ sung
Ngoài các hình phạt chính nêu trên, người phạm tội và pháp nhân thương mại còn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung.
- Đối với cá nhân: Phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
- Đối với pháp nhân thương mại: Phạt tiền từ 100 triệu đến 300 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 đến 03 năm.
2.4. Xử phạt vi phạm hành chính
Theo quy định tại Điều 9 Nghị định 98/2020/NĐ-CP và Điều 13 Nghị định 17/2022/NĐ-CP thì hành vi buôn bán hàng giả, đặc biệt là trong lĩnh vực thuốc chữa bệnh và thuốc phòng bệnh vượt qua biên giới, có một loạt các yếu tố và mức phạt tùy thuộc vào giá trị của sản phẩm giả so với sản phẩm thật hoặc nguồn thu bất hợp pháp.
Theo luật pháp, việc xác định mức phạt được căn cứ vào giá trị tương đương của hàng giả so với hàng thật. Điều này có nghĩa là nếu giá trị của sản phẩm giả tiệm cận giá trị của sản phẩm thật hoặc nếu nguồn thu bất hợp pháp lớn, thì mức phạt sẽ tương đối cao hơn. Đối với cá nhân tham gia vào buôn bán hàng giả, mức phạt tiền có thể từ 1 triệu đồng đến 70 triệu đồng. Trong khi đó, đối với tổ chức hoặc cá nhân tham gia vào hoạt động này, mức phạt tiền có thể từ 2 triệu đồng đến 140 triệu đồng.
Việc áp dụng các mức phạt khác nhau nhằm tạo ra một cơ chế trừng phạt có tính cân đối, đặc biệt là để đối phó với những hoạt động buôn bán hàng giả có quy mô lớn hoặc có nguy cơ gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngăn chặn và trừng phạt hành vi này để bảo vệ lợi ích cộng đồng và sức khỏe của mọi người.
2.5 Mục đích của pháp luật quy định các hình phạt và biện pháp trừng phạt
- Ngăn chặn hành vi vi phạm: Quy định hình phạt nặng về tiền bạc và cấm kinh doanh hoặc hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể nhằm ngăn chặn hoặc làm giảm nguy cơ vi phạm pháp luật. Điều này tạo ra sự động viên cho các pháp nhân thương mại tuân thủ luật pháp và hạn chế hành vi vi phạm.
- Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng: Việc sử dụng hàng giả, đặc biệt là trong lĩnh vực sản phẩm y tế như thuốc chữa bệnh, có thể gây hại đến sức khỏe và sự an toàn của người tiêu dùng. Các biện pháp trừng phạt mạnh mẽ này giúp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng khỏi các sản phẩm không an toàn hoặc không hiệu quả.
- Xây dựng sự tin tưởng trong thị trường: Thị trường chỉ hoạt động hiệu quả khi có sự tin tưởng giữa các thực thể kinh doanh và người tiêu dùng. Bằng cách áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi buôn bán hàng giả, pháp luật cố gắng xây dựng sự tin tưởng trong thị trường và thúc đẩy đạo đức kinh doanh.
- Đánh đổi giá trị kinh tế: Mức phạt tiền và cấm kinh doanh cũng có tính chất đánh đổi giá trị kinh tế. Những hình phạt này giúp làm giảm lợi nhuận mà các tổ chức hoặc cá nhân có thể thu được từ hoạt động buôn bán hàng giả, điều này có thể là một yếu tố đáng sợ đối với họ.
- Tuân thủ luật pháp và đảm bảo tính công bằng: Luật pháp phải có sức mạnh để đảm bảo tính công bằng và tuân thủ. Việc áp dụng các hình phạt nghiêm khắc đối với vi phạm hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả giúp tạo ra sự thúc đẩy cho tuân thủ luật pháp và đảm bảo rằng việc vi phạm sẽ không bị xem xét hay tha thứ một cách dễ dàng
- Bảo vệ danh tiếng và uy tín của ngành công nghiệp và quốc gia: Hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả có thể gây tổn hại đến danh tiếng và uy tín của ngành công nghiệp và quốc gia. Việc tiêu thụ hàng giả có thể dẫn đến sự thiếu tin cậy trong sản phẩm của quốc gia, làm mất lòng tin của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Bằng cách thực hiện các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc, pháp luật cố gắng bảo vệ danh tiếng và uy tín của quốc gia cũng như đảm bảo rằng các ngành công nghiệp hoạt động trong môi trường đáng tin cậy và đúng pháp luật
3. So sánh với các tội danh tương tự và bài học kinh nghiệm từ pháp luật quốc tế
3.1. So sánh các tội danh sản xuất, buôn bán hàng giả
Bảng dưới đây tóm tắt các điểm khác biệt chính giữa ba tội danh liên quan đến hàng giả trong BLHS 2015.
| Tiêu chí so sánh | Điều 192 (Hàng giả thông thường) | Điều 193 (Hàng giả là lương thực, thực phẩm) | Điều 194 (Hàng giả là thuốc) |
| Khách thể bị xâm hại | Trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi người tiêu dùng. | Trật tự quản lý kinh tế, sức khỏe cộng đồng. | Trật tự quản lý kinh tế, sức khỏe, tính mạng con người. |
| Đối tượng của tội phạm | Hàng giả không thuộc các điều 193, 194, 195. | Hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm. | Hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh. |
| Khung hình phạt cơ bản | Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. | Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. | Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. |
| Khung hình phạt cao nhất | Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm. | Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. | Phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. |
3.2. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật quốc tế
Hoa Kỳ (US FDA): Hoa Kỳ đã xây dựng một mô hình kiểm soát chuỗi cung ứng thuốc được gọi là "hệ thống phân phối thuốc khép kín". Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đóng vai trò trung tâm, thực hiện giám sát nghiêm ngặt từ khâu sản xuất đến phân phối. Đặc biệt, Luật An ninh Chuỗi Cung ứng Thuốc (DSCSA) yêu cầu truy xuất nguồn gốc điện tử từng gói sản phẩm, giúp ngăn chặn thuốc giả xâm nhập và thu hồi nhanh chóng. FDA cũng có Văn phòng Điều tra Hình sự để tiến hành các cuộc điều tra tội phạm nghiêm trọng liên quan đến sản phẩm y tế.
Singapore (HSA): Singapore áp dụng các chế tài nghiêm khắc đối với tội phạm y tế. Theo Luật Sản phẩm Y tế (Health Products Act), hành vi sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm y tế giả có thể bị phạt tiền lên tới 100,000 SGD và/hoặc phạt tù đến 3 năm. Cơ quan Khoa học Y tế (HSA) có quyền thu giữ sản phẩm, thu hồi giấy phép và khởi tố hình sự. Singapore cũng tăng cường kiểm soát việc mua bán thuốc qua mạng và khuyến cáo người dân chỉ mua thuốc từ các nguồn đáng tin cậy như phòng khám hoặc nhà thuốc được cấp phép.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): WHO định nghĩa rõ ràng về "sản phẩm y tế kém chất lượng và giả mạo" (Substandard and Falsified Medical Products) và coi đây là một vấn đề y tế toàn cầu nghiêm trọng. WHO đã thiết lập các cơ chế toàn cầu như Cơ chế Thành viên (Member State Mechanism) và Hệ thống Giám sát và Theo dõi Toàn cầu (GSMS) để thúc đẩy hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin và cảnh báo kịp thời về các sản phẩm y tế giả mạo, từ đó xây dựng năng lực quản lý cho các quốc gia thành viên.
4. Quy trình tố tụng và thực tiễn áp dụng pháp luật
4.1. Phân tích các vụ án điển hình
Trong những năm gần đây, tội phạm sản xuất, buôn bán thuốc giả có xu hướng gia tăng cả về số lượng và quy mô, với nhiều vụ án gây chấn động được triệt phá.
Vụ án tại Thanh Hóa: Một trong những vụ án điển hình nhất là việc Công an tỉnh Thanh Hóa triệt phá một đường dây sản xuất, buôn bán thuốc tân dược giả quy mô lớn. 14 đối tượng đã bị bắt giữ vì tội danh này. Đường dây này hoạt động từ năm 2021 và đã thu lợi bất chính lên tới gần 200 tỷ đồng. Lực lượng chức năng đã thu giữ gần 10 tấn thuốc tân dược giả, nguyên liệu sản xuất và nhiều máy móc, thiết bị. Với số tiền thu lợi bất chính và giá trị hàng giả đặc biệt lớn, các đối tượng cầm đầu có thể phải đối mặt với khung hình phạt cao nhất là 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Vụ án tại TP. Hồ Chí Minh: Vào đầu năm 2025, Công an TP. Hồ Chí Minh đã khởi tố và bắt tạm giam 22 đối tượng liên quan đến một đường dây sản xuất, buôn bán thuốc giả. Vụ án này cho thấy tội phạm không chỉ giới hạn ở các tỉnh lẻ mà còn diễn ra ở các trung tâm kinh tế lớn.
Vụ án tại Quảng Ninh: Mặc dù không phải là thuốc chữa bệnh, vụ án sản xuất thuốc diệt cỏ giả tại Quảng Ninh với lợi nhuận bất chính gần 600 triệu đồng cũng minh họa cho sự tinh vi của tội phạm hàng giả nói chung, với các đối tượng đã bán ra thị trường hơn 62.000 gói sản phẩm trong một thời gian ngắn.
Nhìn chung, các vụ án trên đều cho thấy sự leo thang về mức độ nguy hiểm của tội phạm này. Từ các vụ việc đơn lẻ, các đường dây tội phạm đã phát triển thành các tổ chức chuyên nghiệp, hoạt động trong thời gian dài và thu lợi bất chính khổng lồ, gây thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội.
4.2. Tổng hợp, thống kê tình hình tội phạm
Việc đánh giá chính xác tình hình tội phạm sản xuất, buôn bán thuốc giả tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn do sự thiếu hụt các báo cáo thống kê chính thức, tổng hợp và chi tiết từ các cơ quan tố tụng trung ương. Các báo cáo công khai của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao thường chỉ cung cấp số liệu chung về các tội phạm kinh tế, tham nhũng, không phân tách cụ thể tội danh này. Do đó, dữ liệu chủ yếu được tổng hợp từ các nguồn báo chí và báo cáo ngành.
Năm 2023, lực lượng chức năng đã phát hiện hơn 160 vụ việc liên quan đến sản xuất, buôn bán thuốc giả, xử lý hành chính và truy cứu hình sự nhiều đối tượng.
Năm 2024, có 27 loại thuốc bị đình chỉ lưu hành do không đạt tiêu chuẩn chất lượng, trong đó có 8 loại được xác định là thuốc giả. Đáng chú ý, số mẫu thuốc giả được phát hiện qua kiểm nghiệm tại TP.HCM đã tăng đột biến, từ 5 mẫu (năm 2022) lên 12 mẫu (năm 2023) và 40 mẫu (năm 2024).
Các vụ án điển hình gần đây cho thấy quy mô tài chính của tội phạm này là rất lớn, với vụ án tại Thanh Hóa có tổng số tiền giao dịch lên tới 200 tỷ đồng và vụ án tại Quảng Ninh thu lợi bất chính gần 600 triệu đồng.
4.3. Những khó khăn, vướng mắc gặp phải
Tội phạm sản xuất, buôn bán thuốc giả ngày càng trở nên tinh vi, đặc biệt là trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển. Các đối tượng đã không ngừng thay đổi thủ đoạn để tránh sự kiểm soát của cơ quan chức năng.
Lợi dụng nền tảng trực tuyến: Các đối tượng sử dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo hoặc các sàn thương mại điện tử để quảng cáo, rao bán thuốc. Việc kinh doanh qua mạng tạo ra một môi trường ẩn danh, khó kiểm soát, cho phép các đối tượng dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng mà không cần giấy phép kinh doanh hay hóa đơn chứng từ.
Mạo danh "hàng xách tay" và "thương hiệu ảo": Một thủ đoạn mới, rất phổ biến là sản xuất thuốc giả ngay tại Việt Nam nhưng gắn nhãn mác của các thương hiệu nổi tiếng từ nước ngoài như Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha. Thậm chí, các đối tượng còn tự đặt tên thuốc và tên công ty nước ngoài "ảo" để lừa dối người tiêu dùng, tạo niềm tin giả mạo về nguồn gốc và chất lượng. Ban đầu, chúng có thể trà trộn thuốc thật vào thuốc giả để tạo lòng tin, sau đó mới phân phối hoàn toàn thuốc giả.
Sản xuất khép kín: Để tránh bị phát hiện, các cơ sở sản xuất thuốc giả thường được đặt tại những khu vực vắng vẻ, ngõ cụt. Nhân công chủ yếu là người thân, người quen, làm việc và ăn ở khép kín tại xưởng sản xuất, không tiếp xúc với bên ngoài.
Sự tồn tại và phát triển của các đường dây thuốc giả quy mô lớn cho thấy những lỗ hổng đáng kể trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước. Một trong những vấn đề chính là sự thiếu chặt chẽ trong quản lý dược phẩm trực tuyến. Mặc dù các cơ quan đã đề nghị các nền tảng thương mại điện tử như Meta, Shopee kiểm soát hoạt động mua bán thuốc , nhưng cơ chế giám sát và hậu kiểm vẫn còn hạn chế. Nhiều sản phẩm không có giấy phép, hóa đơn chứng từ vẫn được quảng cáo với công dụng như thuốc, gây nhầm lẫn và rủi ro cho người tiêu dùng.
Sự phân tán trong mô hình quản lý cũng là một yếu tố tạo điều kiện cho tội phạm. Các vụ việc được phanh phui cho thấy sự buông lỏng quản lý và trách nhiệm chưa rõ ràng giữa các cơ quan. Một số ý kiến đã đề xuất cần có một đầu mối quản lý thống nhất để đảm bảo an toàn thực phẩm và dược phẩm. Đặc biệt, sự tồn tại dai dẳng và quy mô khổng lồ của các đường dây tội phạm không thể chỉ là do sự sơ hở đơn thuần. Việc một số cán bộ của Cục An toàn thực phẩm bị khởi tố vì nhận hối lộ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vi phạm đã chỉ ra một mối liên hệ trực tiếp giữa sự buông lỏng quản lý và tội phạm có tổ chức. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề về đạo đức và sự thiếu trách nhiệm của con người trong bộ máy quản lý. Sự phát triển của thương mại điện tử đã tạo ra một thách thức kép, vừa đòi hỏi phải thúc đẩy nền kinh tế số, vừa phải đảm bảo an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng, một sự cân bằng khó khăn cần được giải quyết.
5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Kiến nghị 1: Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự hiện nay, đang có những luồng ý kiến khác nhau về việc duy trì hay bỏ hình phạt tử hình đối với tội danh này. Một số ý kiến cho rằng hình phạt tử hình là "quá nghiêm khắc" và người sản xuất thuốc giả có thể không lường trước được hậu quả chết người. Tuy nhiên, lập luận này có thể chưa phản ánh hết bản chất của tội phạm. Hành vi sản xuất, buôn bán thuốc giả là một hành vi cố ý, có mục đích vụ lợi rõ ràng, và hậu quả đối với sức khỏe, tính mạng con người là hoàn toàn có thể lường trước được. Với lợi nhuận bất chính khổng lồ (gần 200 tỷ đồng trong vụ án Thanh Hóa ), việc duy trì hình phạt nghiêm khắc, bao gồm cả tử hình, là cần thiết để răn đe, phòng ngừa và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực này.
Kiến nghị 2: Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, thống nhất để giải quyết những vướng mắc thực tiễn, cần thiết phải có các văn bản hướng dẫn dưới luật cụ thể. Các cơ quan tư pháp trung ương như Hội đồng Thẩm phán TANDTC, VKSNDTC cần ban hành Nghị quyết hoặc Thông tư liên tịch để hướng dẫn chi tiết về:
- Định nghĩa và cách xác định "hàng giả là thuốc" trong các trường hợp phức tạp.
- Phương pháp định giá hàng giả và xác định "thu lợi bất chính" một cách thống nhất, đặc biệt khi thiếu hóa đơn, chứng từ.
- Tiêu chí áp dụng các tình tiết định khung hình phạt một cách chính xác.
Kiến nghị 3: Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng Thủ tướng Chính phủ đã có công điện chỉ đạo các bộ, ngành liên quan, bao gồm Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Công Thương, tăng cường kiểm soát và phòng chống thuốc giả. Sự phối hợp này cần được đẩy mạnh và thể chế hóa bằng các quy trình, cơ chế cụ thể để đảm bảo hiệu quả từ khâu phòng ngừa, phát hiện, điều tra, đến truy tố và xét xử.
Kết luận
Tội danh "Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh" được quy định tại Điều 194 BLHS 2015 là một tội phạm đặc biệt nguy hiểm với cấu thành chặt chẽ và khung hình phạt nghiêm khắc, phản ánh sự quyết tâm của Nhà nước trong việc bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người dân. Điểm mới của BLHS 2015 là việc bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, cho phép xử lý triệt để các đường dây tội phạm có tổ chức, quy mô lớn.
Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ trong quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, đặc biệt là sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn chi tiết, thống nhất. Để nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm này, cần thiết phải có những văn bản hướng dẫn dưới luật từ các cơ quan tư pháp trung ương, làm rõ các tiêu chí xác định tội danh, phương pháp định giá, và tiêu chuẩn áp dụng các tình tiết định khung. Đồng thời, việc tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao năng lực giám định chuyên sâu là những nhiệm vụ cấp thiết để đảm bảo việc xử lý tội phạm được khách quan, chính xác và hiệu quả. Cuối cùng, việc đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về tác hại của thuốc giả cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa tội phạm ngay từ cơ sở.
Ngoài ra, có thể tham khảo: Bán thuốc giả bị khởi tố bao nhiêu năm tù theo quy định mới. Còn vướng mắc, vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn trực tuyến: 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Trân trọng./.