Tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả, đặc biệt trong lĩnh vực lương thực, thực phẩm, và phụ gia thực phẩm, là một vấn nạn nghiêm trọng, gây ra những hệ lụy khôn lường về sức khỏe cộng đồng, mất an toàn vệ sinh thực phẩm và làm xói mòn niềm tin của người tiêu dùng. Hành vi này không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng mà còn gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp chân chính và trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.

Bài viết này hướng đến việc cung cấp một phân tích toàn diện và chuyên sâu về tội danh này dưới góc độ pháp luật hình sự Việt Nam. Bài viết sẽ đi sâu vào cơ sở pháp lý, phân tích thực tiễn xét xử, làm rõ các vấn đề phức tạp trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời đưa ra các đề xuất mang tính chiến lược và có cái nhìn so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm. Phương pháp luận của bài viết dựa trên việc phân tích, tổng hợp và so sánh các văn bản pháp luật, tài liệu nghiên cứu, án lệ và thông tin thực tiễn thu thập được.

Khi có đủ các dấu hiệu pháp lý thì người thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm" được quy định tại Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017. 

 

1. Các yếu tố cấu thành tội sản xuất, buôn bán lương thực, thực phẩm giả

1.1. Khách thể của tội phạm

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Cụ thể, khách thể của tội phạm là trật tự của nền sản xuất hàng hóa, làm mất sự ổn định của thị trường, xâm hại lợi ích và sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng.

Đối tượng tác động của tội phạm này là lương thực, thực phẩm không phải là thật (hàng giả); có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của nó; không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký hoặc có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu dã đăng kí hoặc cũng có thể là lương thực, thực phẩm có tem, nhãn, bao bì giả mạo.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này gồm hai hành vi là sản xuất và buôn bán. Có thể hiểu như sau: một người chỉ thực hiện hành vi sản xuất hàng giả là lương thực, thực phẩm thì chỉ định tội là “sản xuất hàng giả là lương thực, thực phẩm”, mà không định tội là “sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm” và ngược lại. Nếu người phạm tội thực hiện cả hai hành vi cùng một đối tượng phạm tội thì sẽ bị định tội là: “sản xuất và buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm".

Hậu quả của hành vi sản xuất, buôn bán lương thực, thực phẩm giả không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội nhưng sẽ là căn cứ để định khung hình phạt. Một số hậu quả có thể kể đến như:

- Những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho xã hội như: tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội.

- Xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp, gây thiệt hại đến lợi ích vật chất, uy tín của doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa bị người phạm tội sản xuất hoặc buôn bán hàng giả.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm được coi là hoàn thành khi có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm xảy ra.

1.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm có thể là cá nhân hoặc là pháp nhân thương mại.

Trong trường hợp chủ thể là cá nhân:

Người thực hiện hành vi phạm tội phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình. Do đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong trường hợp chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại:

Căn cứ vào Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì điều kiện chịu trách nhiệm về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm của pháp nhân thương mại được quy định như sau:

- Hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại.

- Hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại.

- Hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại.

Ví dụ thực tiễn: Công ty P. chuyên sản xuất nước giải khát, nhưng đã sử dụng chất tạo ngọt không được phép để giảm giá thành. Hậu quả là sản phẩm của công ty này gây ra nhiều ca ngộ độc thực phẩm. Công ty P. có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm.

1.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm do lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi sản xuất hàng giả hoặc biết rõ là hàng giả nhưng vẫn buôn bán; thấy trước được hậu quả của của hành vi và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ, mục đích của người phạm tội tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, nhưng việc xác định mục đích của người phạm tội có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt. Nhìn chung, người phạm tội sản xuất hoặc buôn bán hàng giả là vì lợi nhuận.

 

2. Khung hình phạt tội sản xuất, buôn bán lương thực, thực phẩm giả

Nội dung điều 193 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

Điều 193. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm

1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Phạm tội qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại;

g) Hàng giả trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;

h) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;

i) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

k) Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

l) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%;

m) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Hàng giả có giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn 200.000.000 đồng trở lên;

b) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá 500.000.000 đồng trở lên trong trường hợp không xác định được giá thành sản xuất, giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;

c) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

d) Làm chết người;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Thu lợi bất chính từ 1.500.000.000 đồng trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;

đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 9.000.000.000 đồng đến 18.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Điều 193 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt đối với người phạm tội và 06 khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại.

2.1. Đối với người phạm tội là cá nhân

Điều 193 quy định các khung hình phạt tăng nặng tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi, dựa trên nhiều yếu tố như giá trị hàng giả, thu lợi bất chính, hậu quả về sức khỏe, tính mạng và các tình tiết khác.

Khung Hình Phạt Mức Phạt Tù Các Tình Tiết Định Khung Tương Ứng
Khoản 1 (Khung cơ bản) Từ 2 đến 5 năm

Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm.

Khoản 2 (Tăng nặng) Từ 5 đến 10 năm

Giá trị hàng giả từ 150 triệu đến dưới 500 triệu đồng; thu lợi bất chính từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng; gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây thiệt hại tài sản từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng; có tổ chức, tính chất chuyên nghiệp, buôn bán qua biên giới,....

Khoản 3 (Tăng nặng) Từ 10 đến 15 năm

Giá trị hàng giả từ 500 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 500 triệu đến dưới 1.5 tỷ đồng; gây thiệt hại tài sản từ 500 triệu đến dưới 1.5 tỷ đồng; làm chết người; gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên,....

Khoản 4 (Tăng nặng đặc biệt) Từ 15 đến 20 năm hoặc tù chung thân

Thu lợi bất chính từ 1.5 tỷ đồng trở lên; gây thiệt hại tài sản từ 1.5 tỷ đồng trở lên; làm chết 2 người trở lên; gây thương tích tổng cộng từ 122% trở lên,....

Hình phạt bổ sung

Phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề từ 1 đến 5 năm; tịch thu tài sản.

Áp dụng tùy từng trường hợp.

2.2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Các mức phạt đối với pháp nhân thương mại được quy định rõ ràng tại Khoản 6 Điều 193 Bộ luật Hình sự:

  • Phạt tiền chính: Từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng cho khung cơ bản, và có thể lên tới 18 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm đối với các trường hợp nghiêm trọng.
  • Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: Nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này.
  • Hình phạt bổ sung: Ngoài ra, pháp nhân còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm.

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân vẫn là một vấn đề phức tạp trong thực tiễn. Một số vụ án đã được khởi tố đối với các công ty và giám đốc liên quan , nhưng thông tin về các bản án cuối cùng dành cho pháp nhân còn hạn chế. Điều này cho thấy việc áp dụng quy định mới này cần thêm thời gian và hướng dẫn cụ thể để tạo ra các án lệ có tính thuyết phục và thống nhất cao.

Khung Hình Phạt Mức Phạt Tiền Hình phạt bổ sung
Khoản 1 (Khung cơ bản)

Từ 1.000.000.000 đến 3.000.000.000 đồng.

Phạt tiền từ 100.000.000 đến 300.000.000 đồng; cấm kinh doanh/hoạt động hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm.

Khoản 2 (Tăng nặng)

Từ 3.000.000.000 đến 6.000.000.000 đồng.

(Giống trên).

Khoản 3 (Tăng nặng)

Từ 6.000.000.000 đến 9.000.000.000 đồng.

(Giống trên).

Khoản 4 (Tăng nặng đặc biệt)

Từ 9.000.000.000 đến 18.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm.

Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong trường hợp đặc biệt.

2.3 Mối quan hệ với các văn bản pháp luật liên quan

Luật An toàn thực phẩm và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa đóng vai trò là nền tảng pháp lý để xác định các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng. Các văn bản này quy định chi tiết về những yếu tố cấu thành một sản phẩm đạt chuẩn, từ đó tạo cơ sở để cơ quan chức năng xác định hành vi vi phạm. Cụ thể, các vi phạm hành chính, chẳng hạn như sản xuất hàng hóa không đạt tiêu chuẩn ở mức độ nhẹ, sẽ bị xử phạt theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP và Nghị định 98/2020/NĐ-CP. Khi các hành vi này vượt qua ngưỡng nhất định về giá trị, lợi nhuận, hoặc hậu quả gây ra, chúng sẽ bị hình sự hóa theo Điều 193 Bộ luật Hình sự.

Điều này cho thấy có một chuỗi giá trị pháp lý chặt chẽ trong việc xử lý vi phạm. Các văn bản pháp luật chuyên ngành về an toàn và chất lượng sản phẩm cung cấp căn cứ để nhận diện "hàng giả" về mặt kỹ thuật, trong khi Bộ luật Hình sự cung cấp chế tài nghiêm khắc đối với hành vi có tính chất lừa dối, gian lận và gây hậu quả nghiêm trọng. Điều này cũng giúp phân biệt tội danh tại Điều 193 với các tội danh khác trong Bộ luật Hình sự liên quan đến an toàn thực phẩm như Điều 317, vốn tập trung vào vi phạm quy định an toàn thực phẩm mà không nhất thiết phải có yếu tố "làm giả".

 

3. Các vấn đề pháp lý phức tạp và chuyên sâu

3.1. Phân biệt hàng giả, hàng kém chất lượng và hàng cấm

Việc phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm này là rất quan trọng để xác định đúng tội danh và áp dụng chế tài phù hợp.

Sự khác biệt cốt lõi giữa "hàng giả" và "hàng kém chất lượng" nằm ở mặt chủ quan của tội phạm: hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đòi hỏi lỗi cố ý và mục đích trục lợi , trong khi sản xuất hàng kém chất lượng có thể do lỗi vô ý hoặc quản lý lỏng lẻo. Tương tự, "hàng giả" và "hàng cấm" khác nhau ở đối tượng tác động: hàng giả là sản phẩm được phép lưu hành nhưng bị làm giả, còn hàng cấm là sản phẩm bị cấm lưu hành hoàn toàn. Tuy nhiên, một sản phẩm có thể mang cả hai tính chất (ví dụ: sản xuất ma túy giả), do đó, việc phân định rõ ràng là cần thiết để xác định tội danh chính xác.

Tiêu chí Hàng giả Hàng kém chất lượng Hàng cấm
Định nghĩa

Giả mạo về giá trị sử dụng, chất lượng, nhãn mác, bao bì, hoặc nguồn gốc.

Sản phẩm của nhà sản xuất hợp pháp nhưng không đạt tiêu chuẩn công bố.

Hàng hóa bị cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ theo pháp luật.

Văn bản pháp lý

Điều 193 BLHS; Nghị định 98/2020/NĐ-CP.

Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Luật Đầu tư 2020; Nghị định 31/2021/NĐ-CP; BLHS.

Bản chất vi phạm

Có yếu tố lừa dối, gian lận về bản chất sản phẩm để thu lợi bất chính.

Vi phạm tiêu chuẩn kỹ thuật do lỗi khách quan hoặc quản lý lỏng lẻo.

Vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý các mặt hàng nguy hiểm.

Hậu quả pháp lý

Xử lý hình sự (Điều 193 BLHS) hoặc xử phạt hành chính tùy mức độ.

Chủ yếu là xử phạt hành chính.

Xử lý hình sự (ví dụ Điều 190 BLHS) hoặc xử phạt hành chính.

3.2. So sánh với pháp luật một số quốc gia

Việc so sánh pháp luật của Việt Nam với một số quốc gia khác về tội danh tương tự sẽ cung cấp một cái nhìn đa chiều và giúp rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá.

Các mô hình pháp lý này cho thấy Việt Nam có thể học hỏi một số điểm. Mức hình phạt cao nhất ở Việt Nam (tù chung thân) nghiêm khắc hơn Hoa Kỳ/EU nhưng vẫn kém hơn Trung Quốc. Mô hình của Hoa Kỳ/EU thể hiện sự tách bạch và phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý hành chính (như FDA) và cơ quan tư pháp (như DOJ), điều này có thể giúp Việt Nam nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đặc biệt là trong việc phát hiện và giám định ban đầu.

Tiêu chí Việt Nam Trung Quốc Hoa Kỳ
Tên tội danh

"Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm" (Điều 193 BLHS).

Nhiều tội danh, ví dụ: "Sản xuất, buôn bán sản phẩm giả hoặc kém chất lượng" (Điều 140) và "Sản xuất, buôn bán thực phẩm không đạt chuẩn an toàn" (Điều 143).

"Adulteration" và "Misbranding" theo Đạo luật FD&C (FD&C Act).

Cơ quan quản lý chính

Nhiều cơ quan: Công an, Quản lý thị trường, Thanh tra chuyên ngành.

Nhiều cơ quan, ví dụ: Cục Quản lý Nhà nước về Quy chế Thị trường.

Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) phối hợp với Bộ Tư pháp (DOJ).

Mức hình phạt cao nhất

Tù chung thân.

Tử hình.

Tù chung thân nếu gây chết người.

Án lệ tiêu biểu

Vụ D.H.Q sản xuất bột ngọt giả. Vụ Nguyễn Thị M sản xuất nước mắm giả.

Vụ sữa nhiễm melamine.

Vụ bán cua giả, phô mai giả.

4. Phân tích các Án lệ và thực tiễn xét xử

4.1. Tổng hợp và phân tích các vụ án tiêu biểu

Thực tiễn xét xử các vụ án về tội danh này đã được ghi nhận trong nhiều trường hợp.

Vụ án D.H.Q (Quận 6, TP.HCM): Đây là một trong những vụ án đầu tiên được xét xử theo Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo D.H.Q bị tuyên phạt 2 năm tù giam về tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả là phụ gia thực phẩm". Ngoài án tù, bị cáo còn bị phạt hành chính 20 triệu đồng và bị tịch thu, tiêu hủy toàn bộ tang vật, bao gồm hơn 500 kg bột ngọt giả và nhiều nguyên liệu, dụng cụ sản xuất. Mặc dù số lượng hàng giả khá lớn, mức án 2 năm tù cho thấy Tòa án đã áp dụng khung hình phạt cơ bản tại Khoản 1 Điều 193. Điều này có thể giải thích là do giá trị hàng giả chưa đạt đến mức để áp dụng khung tăng nặng, hoặc hậu quả về sức khỏe, tài sản chưa được xác định ở mức nghiêm trọng.

Vụ án Nguyễn Trung V (Hải Dương): Tòa án Nhân dân tỉnh Hải Dương đã xét xử bị cáo Nguyễn Trung V về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, được quy định tại Điều 193 Bộ luật Hình sự 2015.

Vụ án Nguyễn Thị M (Hà Nam): Tòa án Nhân dân tỉnh Hà Nam đã xét xử phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị M về tội danh này. Bị cáo đã sản xuất nước mắm giả mạo nhãn hiệu "Chin-su Foods Nam Ngư" để bán kiếm lời.

Tuy nhiên, các thông tin công bố về các bản án này thường chỉ giới hạn ở tên bị cáo, tội danh và điều luật áp dụng, thiếu các chi tiết quan trọng về hành vi cụ thể, giá trị tang vật, cách thức định giá, hay lập luận của Tòa án khi đưa ra mức hình phạt. Sự thiếu hụt này tạo ra một khoảng trống lớn trong cơ sở dữ liệu án lệ, gây khó khăn cho việc nghiên cứu, đào tạo pháp lý, và việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất, bởi các nhà nghiên cứu và thực tiễn không thể hiểu rõ Tòa án đã cân nhắc những yếu tố nào để đưa ra phán quyết cuối cùng.

4.2. Đánh giá việc xác định giá trị hàng giả và hậu quả thiệt hại

Giá trị hàng giả và hậu quả thiệt hại là những yếu tố then chốt để xác định khung hình phạt. Theo pháp luật tố tụng hình sự, khi cần xác định giá trị tài sản liên quan đến vụ án, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra văn bản yêu cầu định giá tài sản. Đối với tang vật là hàng giả, giá trị của nó được xác định là giá thị trường của hàng hóa thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng tại thời điểm và nơi phát hiện vi phạm.

Mặc dù quy định này nhằm đảm bảo tính khách quan, trên thực tế, việc định giá vẫn còn nhiều vướng mắc. Một số nguồn tin cho rằng các quy định về thời điểm tính giá trị của hàng giả còn chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc áp dụng. Hơn nữa, việc sử dụng giá của hàng thật để định giá hàng giả có thể bị các đối tượng vi phạm phản đối vì cho rằng giá trị bị tính cao hơn thực tế và mang tính áp đặt, dẫn đến việc áp dụng khung hình phạt bất lợi. Điều này đặt ra câu hỏi về sự công bằng và tính khách quan của quy trình định giá, đồng thời chỉ ra nhu cầu cấp thiết phải có hướng dẫn chi tiết và thống nhất hơn để giải quyết những tranh chấp này.

Hậu quả thiệt hại về sức khỏe và tính mạng cũng là một yếu tố quan trọng. Các cơ quan tố tụng sẽ dựa vào kết quả giám định y khoa để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể hoặc nguyên nhân dẫn đến chết người, từ đó làm căn cứ để áp dụng các khung hình phạt tăng nặng tương ứng.

4.3. Đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong thực thi pháp luật

Mặc dù Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) đã có những bước tiến đáng kể trong việc hình sự hóa tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả, thực tế thi hành vẫn còn nhiều khó khăn.

  • Vấn đề pháp lý: Thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết về các thuật ngữ như "hàng giả tương đương với số lượng hàng thật" hay thời điểm tính giá trị để định khung hình phạt. Việc này có thể dẫn đến sự thiếu nhất quán trong việc áp dụng pháp luật.
  • Vấn đề tố tụng: Việc định tội danh vẫn còn phức tạp và có thể nhầm lẫn với các tội danh khác như "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản" hoặc các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng (Công an, Quản lý thị trường, Thanh tra chuyên ngành) trong việc phát hiện, điều tra, và giám định còn chưa thực sự hiệu quả.
  • Thách thức mới: Tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng tinh vi, lợi dụng các nền tảng thương mại điện tử để thực hiện hành vi. Các quy định hiện hành có thể chưa theo kịp với sự thay đổi này, dẫn đến những lỗ hổng trong công tác quản lý.

4.5. Đề xuất giải pháp và kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm này, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp:

  • Cần hoàn thiện pháp luật ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, đặc biệt là thông tư liên tịch giữa các cơ quan tố tụng, để làm rõ các khái niệm, quy trình định giá và xác định thiệt hại. Cần sớm có hướng dẫn cụ thể về việc xử lý hành vi buôn bán hàng giả trên các nền tảng thương mại điện tử.
  • Cần nâng cao năng lực thực thi tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ thực thi pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực giám định, định giá tài sản và điều tra tội phạm công nghệ cao. Cần có cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ và hiệu quả hơn để đảm bảo việc xử lý được kịp thời và đúng người, đúng tội.
  • Cần tăng cường vai trò của người dân và doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật để người dân nâng cao nhận thức về quyền lợi và cách thức tố giác tội phạm. Đồng thời, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và thương hiệu của mình.

Kết luận

Bài viết đã phân tích một cách toàn diện khung pháp lý của Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm theo Điều 193 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017). Mặc dù các quy định đã khá chi tiết và tiến bộ, đặc biệt là việc bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân, thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc.

Những khó khăn chính bao gồm sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn chi tiết về các khái niệm, quy trình định giá, và sự thiếu thống nhất trong thực tiễn xét xử. Việc thiếu thông tin công khai về các bản án cụ thể cũng là một rào cản lớn cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật.

Để nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm này, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý bằng cách ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể và tăng cường công tác phối hợp liên ngành. Đồng thời, việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia như Trung Quốc (về tính răn đe) và Hoa Kỳ/EU (về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính và tư pháp) sẽ là những bài học giá trị, góp phần củng cố hệ thống pháp luật, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và duy trì một môi trường kinh doanh lành mạnh.

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với  Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.