- 1. Khái quát về Tổng cục quản lý ruộng đất
- 2. Cơ cấu tổ chức của Bộ tài nguyên và môi trường
- 3. Giai đoạn 1945 - 1959 của tổng cục Quản lý đất đai (Tổng cục quản lý ruộng đất)
- 4. Giai đoạn 1960 - 1978 của Tổng cục Quản lý đất đai (Tổng cục quản lý ruộng đất)
- 5. Giai đoạn 1979 - 2002 của tổng cục Quản lý đất đai (Tổng cục quản lý ruộng đất)
- 6. Giai đoạn từ năm 2002 đến nay của Tổng cục Quản lý đất đai
1. Khái quát về Tổng cục quản lý ruộng đất
Tổng cục quản lý ruộng đất là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng quản lí nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước giai đoạn từ 1979 đến năm 1994, là một trong những cơ quan tiền thân của Tổng cục địa chính nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường.
2. Cơ cấu tổ chức của Bộ tài nguyên và môi trường
- Cơ sở pháp lý: Điều 3 Nghị định 36/2017/NĐ-CP quy định về cơ cấu tổ chức của Bộ tài nguyên và môi trường như sau:
- Vụ Hợp tác quốc tế.
- Vụ Kế hoạch - Tài chính.
- Vụ Khoa học và Công nghệ.
- Vụ Pháp chế.
- Vụ Thi đua, Khen thưởng và Tuyên truyền.
- Vụ Tổ chức cán bộ.
- Thanh tra Bộ.
- Văn phòng Bộ.
- Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
- Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.
- Tổng cục Quản lý đất đai.
- Tổng cục Môi trường.
- Tổng cục Khí tượng Thủy văn.
- Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên môi trường.
- Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam.
- Cục Biến đổi khí hậu.
- Cục Quản lý tài nguyên nước.
- Cục Viễn thám quốc gia.
- Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường.
- Báo Tài nguyên và Môi trường.
- Tạp chí Tài nguyên và Môi trường.
- Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia.
- Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường.
Tại các tổ chức trên này các đơn vị quy định từ Vụ Hợp tác quốc tế đến Cục Viễn thám quốc gia là các đơn vị hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các đơn vị quy định từ khoản 19 đến khoản 23 là các đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ.
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ: Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Tổng cục Quản lý đất đai, Tổng cục Môi trường, Tổng cục Khí tượng Thủy văn; ban hành danh sách các tổ chức sự nghiệp khác trực thuộc Bộ.
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc bộ, không bao gồm các đơn vị quy định tại: Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam; Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam; Tổng cục Quản lý đất đai; Tổng cục Môi trường; Tổng cục Khí tượng Thủy văn.
Vụ Kế hoạch - Tài chính có 04 phòng; Vụ Pháp chế có 03 phòng; Vụ Tổ chức cán bộ có 03 phòng; Thanh tra Bộ có 07 phòng; Văn phòng Bộ có 08 phòng.
Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên môi trường có 06 phòng và 01 chi cục; Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam có 07 phòng và 01 chi cục; Cục Biến đổi khí hậu có 07 phòng; Cục Quản lý tài nguyên nước có 09 phòng và 03 chi cục; Cục Viễn thám quốc gia có 06 phòng.
Về quá trình hình thành và phát triển Tổng cục Quản lý đất đai (Tổng cục quản lý ruộng đất) theo trang Tổng cục quản lý đất đai giới thiệu, quá trình hình thành và phát triển Tổng cục Quản lý đất đai được thể hiện như sau:
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới của nước Việt Nam, kỷ nguyên dân tộc độc lập, dân quyền và dân chủ. Đến nay, trải qua 73 năm xây dựng và phát triển, ngành Quản lý đất đai Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và ở mỗi giai đoạn, Ngành đều có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, có thể tóm tắt như sau:
3. Giai đoạn 1945 - 1959 của tổng cục Quản lý đất đai (Tổng cục quản lý ruộng đất)
Năm 1950, Nha Công sản - Trực thu - Địa chính được thành lập trên cơ sở hợp nhất Nha Trước bạ - Công sản - Điền thổ với Nha Địa chính theo Sắc lệnh số 112/SL ngày 11/7/1950 của Chủ tịch nước.
Trong giai đoạn này, nhiệm vụ của Ngành chủ yếu bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất và thu thuế điền thổ, huy động thuế nông nghiệp phục vụ kháng chiến, kiến quốc. Sau cải cách ruộng đất ở miền Bắc, để góp phần thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế của đất nước, ngành Địa chính đã tổ chức đo đạc, lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính để nắm diện tích ruộng đất, phục vụ kế hoạch hóa và hợp tác hóa nông nghiệp, tính thuế ruộng đất, xây dựng đô thị.
Thời kỳ này kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai của Ngành đã đạt được một số thành tựu nổi bật như: (1) tham mưu trình Quốc hội ban hành Luật Thuế trực thu Việt Nam, Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 góp phần thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của người dân, đảm bảo người cày có ruộng. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về đất đai, trong đó có 26 sắc lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về quản lý, sử dụng đất đai và thuế điền thổ. (2) Công tác xây dựng bản đồ thổ nhưỡng, đo đạc lập bản đồ giải thửa, thống kê, kiểm kê đất nông nghiệp được tổ chức thực hiện để thay thế tài liệu cũ của thực dân Pháp để lại nhằm phục vụ công tác quản lý đất đai trong thời kỳ mới.
4. Giai đoạn 1960 - 1978 của Tổng cục Quản lý đất đai (Tổng cục quản lý ruộng đất)
Do sự phát triển quan hệ ruộng đất ở nông thôn và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, ngành Quản lý ruộng đất được thiết lập theo Nghị định số 70-CP và Nghị định số 71-CP ngày 09/12/1960 của Hội đồng Chính phủ, chuyển từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông nghiệp với nhiệm vụ quản lý mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp. Hệ thống quản lý ruộng đất được tổ chức thành 04 cấp gồm Trung ương, tỉnh, huyện và xã
Trong giai đoạn này, nhiệm vụ chủ yếu của Ngành là: "Quản lý việc mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp", ngành Quản lý ruộng đất đã có đóng góp to lớn trong việc mở rộng và sử dụng có hiệu quả diện tích đất nông nghiệp, xây dựng kinh tế hợp tác xã và phát triển nông thôn.
Thời kỳ này kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai của Ngành đã đạt được một số thành tựu nổi bật như: (1) Ngành đã xây dựng trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các chính sách đất đai chủ yếu tập trung khôi phục kinh tế nông nghiệp và cải tạo Chủ nghĩa Xã hội đối với các thành phần kinh tế. (2) Lập bản đồ thổ nhưỡng và phân hạng đất nông nghiệp đã được thực hiện ở các tỉnh miền Bắc trước năm 1975. Năm 1976 triển khai xây dựng bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng cấp tỉnh của các tỉnh phía nam. (3) Đo đạc chỉnh lý bản đồ giải thửa trên diện tích gần 7.800.000 ha của 5.000 xã ở các tỉnh phía Bắc. (4) Việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp đất đai bắt đầu được quan tâm tổ chức thực hiện.
5. Giai đoạn 1979 - 2002 của tổng cục Quản lý đất đai (Tổng cục quản lý ruộng đất)
Để tăng cường công tác quản lý đất đai, thống nhất các hoạt động quản lý nhà nước về đất đai vào một hệ thống thống nhất, năm 1979, Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành lập theo Nghị quyết số 548/NQQH ngày 24/5/1979 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội và Nghị định số 404-CP ngày 09/11/1979 của Hội đồng Chính phủ. Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập theo 03 cấp: cấp tỉnh là Ban quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là Phòng Quản lý ruộng đất, cấp xã là cán bộ quản lý ruộng đất.
Trước yêu cầu về tổ chức lại các cơ quan quản lý Nhà nước và tăng cường công tác quản lý đất đai, năm 1994 Tổng cục Quản lý ruộng đất và Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước được hợp nhất và tổ chức lại thành Tổng cục Địa chính theo Nghị định số 12/CP ngày 22/02/1994 và Nghị định số 34/CP ngày 23/4/1994 của Chính phủ. Sau khi thành lập Tổng cục Địa chính, các địa phương đã thành lập Sở Địa chính trực thuộc UBND cấp tỉnh. Tại cấp huyện là Phòng Địa chính trực thuộc UBND cấp huyện, tại cấp xã, có cán bộ địa chính xã.
Trong thời kỳ này thời kỳ này Ngành đã đạt được một số thành tựu nổi bật như: (1) Trình Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993; (2) Xây dựng bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000, bản đồ thổ nhưỡng cấp tỉnh của các tỉnh phía nam, hoàn thành năm 1985; (3) Triển khai thí điểm phân hạng đất phục vụ thu thuế nông nghiệp ở một số xã, huyện ở các vùng sản xuất lúa, mầu, đến năm 1986 có 65% diện tích đất lúa đã được phân hạng; (4) Công tác quy hoạch sử dụng đất bắt đầu được chú trọng từ nghiên cứu cơ sở lý luận đến xây dựng hệ thống văn bản quy phạm và triển khai thực hiện trong thực tế để làm cơ sở giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (5) Công tác đo đạc lập bản đồ giải thửa về cơ bản đã hoàn thành trong cả nước theo Chỉ thị số 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ; (6) Ứng dụng công nghệ định vị toàn cầu (GPS) để lập bản đồ địa chính có tọa độ được bắt đầu triển khai từ năm 1990, đến năm 2001 đã thực hiện tổ chức xây dựng lưới cơ sở địa chính phủ trùm lãnh thổ; (7) Cả nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 92,0% hộ sử dụng đất nông nghiệp với diện tích đạt trên 91,0% diện tích đất nông nghiệp; đã tổ chức đăng ký đất đai cho 2.712.490 hộ sử dụng đất đô thị, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trên 855.000 hộ chiếm 26,8% số hộ sử dụng đất đô thị; (8) Từ năm 1990, hàng năm, công tác thống kê đất đai và công tác kiểm kê đất đai (5 năm một lần) được Ngành thực hiện hiệu quả. Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai được cung cấp cho các ngành, các cấp sử dụng vào công tác quy hoạch ngành, lĩnh vực; phục vụ thu thuế nông nghiệp; (9) Tham mưu cho Nhà nước ban hành Luật Đất đai năm 1993; việc ban hành Luật Đất đai năm 1993 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quản lý đất đai với việc Nhà nước công nhận đất có giá đã tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước và thị trường bất động sản dần hình thành và phát triển. (10) Nhiều công trình nghiên cứu khoa học, chương trình, dự án quốc tế đã góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế cho công tác xây dựng chính sách, pháp luật đất đai và hỗ trợ đáng kể cho công tác quản lý đất đai; (11) Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai đã được Ngành quan tâm, chú trọng, phát hiện và xử lý nhiều vi phạm, giải quyết nhiều vụ khiếu kiện liên quan đất đai, trong đó có nhiều vụ khiếu kiện đông người.
6. Giai đoạn từ năm 2002 đến nay của Tổng cục Quản lý đất đai
Đến năm 2002, theo định hướng thành lập các Bộ đa ngành, Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 của Quốc hội khoá XI và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ. Ở địa phương thành lập Sở Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở hợp nhất Sở Địa chính, các đơn vị quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ.
Để tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tổng cục Quản lý đất đai được thành lập trong Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm tập trung các hoạt động quản lý nhà nước về đất đai ở cấp Trung ương về một đầu mối chuyên trách.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 134/2008/QĐ-TTg và Quyết định số 25/2011/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý đất đai trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý đất đai được quy định tại Quyết định số 02/2018/QĐ-TTg ngày 17/01/2018 của Thủ tướng chính phủ.
Về cơ cấu tổ chức bộ máy, đến nay Tổng cục Quản lý đất đai có 13 đơn vị trực thuộc, trong đó có 9 đơn vị quản lý nhà nước, 01 đơn vị nghiên cứu và 03 đơn vị sự nghiệp. Tại cấp tỉnh, nhiều địa phương đã thành lập Chi cục Quản lý đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường. Đến nay, tổ chức của Ngành ở cấp tỉnh có cơ cấu hoàn chỉnh gồm 63 Sở Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ các phòng, ban chức năng về quản lý đất đai và các đơn vị sự nghiệp, trong đó có: Trung tâm Phát triển quỹ đất, Văn phòng Đăng ký đất đai hoạt động theo mô hình một cấp, Quỹ phát triển đất... Tại cấp huyện, cơ quan quản lý đất đai là Phòng Tài nguyên và Môi trường; tại cấp xã có công chức địa chính xã.
Hiện tại, toàn ngành có gần 20.000 người, trong đó: Trung ương có hơn 700 công chức, viên chức và người lao động; cấp tỉnh có 2.2000 công chức, viên chức; cấp huyện có 5.200 công chức, viên chức; cấp xã, phường, thị trấn có khoảng 11.000 cán bộ địa chính. Hiện nay, Ngành tập trung vào thực hiện 15 nhiệm vụ chính, so với thời kỳ trước Ngành được bổ sung nhiệm vụ điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất; xây dựng hệ thống thông tin đất đai; kiểm soát quản lý, sử dụng đất đai.
Thời kỳ này kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai của Ngành đã đạt được một số thành tựu nổi bật như (1) trình Quốc hội thông qua Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013; (2) Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngày càng có bước tiến rõ rệt về chất lượng. Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) cấp quốc gia đã được Quốc hội phê duyệt. Chính phủ đã xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) cho 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; (3) Ngành đã thực hiện tốt việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chuyển mục đích sử dụng đất. Đến nay, tổng diện tích đất đã giao, đã cho thuê là khoảng 25,5 triệu ha, chiếm 71% tổng diện tích tự nhiên của cả nước; (4) Năm 2014, đánh dấu mốc quan trọng, cả nước ta cơ bản hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận lần đầu. Cả nước đã cấp được hơn 41,6 triệu Giấy chứng nhận. (5) Với mục tiêu quản lý đến từng thửa đất bằng công nghệ số, từ năm 2000 đến nay, Ngành đã từng bước chuẩn hóa dữ liệu địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu số đến từng thửa đất. Đến nay một số địa phương đã xây dựng xong và vận hành cơ sở dữ liệu đất đai toàn tỉnh; (6) Hệ thống chính sách tài chính về đất đã tiếp cận và ngày càng phù hợp hơn với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguồn thu từ đất là một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; (7) Ngành đã thực hiện tốt chủ trương cải cách thủ tục hành chính, đã rà soát và cắt giảm được nhiều thủ tục hành chính trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy định chi tiết thi hành, được dư luận xã hội đánh giá cao; (8) Công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh đã đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn, những kinh nghiệm quốc tế trong việc quản lý đất đai; (9) Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai trong thời gian qua đã được Ngành tích cực thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Các vi phạm phát hiện qua thanh tra, kiểm tra đất đai đã được xử lý và chấn chỉnh, ngăn chặn các sai phạm; giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai, hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Trân trọng!