1. Trợ giúp pháp lý là gì?

Điều 2 Luật trợ giúp pháp lý 2017 định nghĩa Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

- Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý

1. Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.

2. Kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.

3. Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.

4. Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý.

2. Tổng quan về chính sách trợ giúp pháp lý của Nhà nước

Tại Thông báo số 485/CV-VPTW ngày 31/5/1995 của Văn phòng Trung ương Đảng về ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư đối với Quy chế hành nghề tư vấn pháp luật đã đề nghị Ban cán sự Đảng Chính phủ, Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp: “xác định phạm vi thích hợp hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân, trước hết chú trọng tổ chức tư vấn pháp luật của nhà nước…; cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật”. Trong thư ngày 20/12/1995 gửi cán bộ, nhân viên ngành Tư pháp nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập ngành, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười một lần nữa nhấn mạnh: “Nhà nước phải nghiên cứu sớm thành lập một hệ thống các tổ chức tư vấn pháp luật không mất tiền dành cho người nghèo, các gia đình thuộc diện chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số”. Những chỉ đạo này đã định hướng đổi mới tư duy về công tác cung ứng dịch vụ pháp lý, đặt dấu mốc cho quá trình chuyển biến sâu sắc và toàn diện trong nhận thức, tạo tiền đề về mặt chính trị - pháp lý cho sự ra đời và phát triển của công tác TGPL trong giai đoạn tiếp theo.

Tại kỳ họp lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ngày 18/6/1997, lần đầu tiên trong Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ đạo định hướng triển khai công tác TGPL theo hướng: “Tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí”. Đây là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng, tiếp tục khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận pháp luật của người nghèo và nhóm yếu thế. Trên cơ sở đó Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách. Triển khai Quyết định này, hệ thống tổ chức thực hiện TGPL đã được thành lập trong cả nước. Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp được thành lập giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về TGPL trong toàn quốc

>> Xem thêm:  Trợ giúp pháp lý và trách nhiệm của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ngày 20/6/2006, Quốc hội khóa X đã ban hành Luật TGPL, đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động TGPL. Trước yêu cầu phát triển của đất nước, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, nhiều đạo luật, luật về tố tụng quan trọng mới được Quốc hội ban hành, công cuộc tăng cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp… đã đặt ra yêu cầu cần đổi mới công tác TGPL theo hướng tập trung thực hiện vụ việc TGPL, bảo đảm chất lượng vụ việc. Ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật TGPL năm 2017 (100% đại biểu có mặt tán thành) với mục tiêu trọng tâm là nâng cao chất lượng TGPL, sử dụng nguồn lực có hiệu quả và lấy người được TGPL làm trung tâm. Sự ra đời của Luật TGPL năm 2017, một lần nữa khẳng định Đảng và Nhà nước tiếp tục ghi nhận vị trí, vai trò của công tác TGPL, đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL là người nghèo và nhóm yếu thế tại Việt Nam.

TGPL đã được khẳng định là một chính sách “giảm nghèo về pháp luật” trong tổng thể các chính sách về giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, cụ thể là Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Chương trình 135 giai đoạn II), Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ và định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 theo Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ; Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg ngày 08/08/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chính sách TGPL cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016-2020 và hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặc điển hình.

Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, đến nay, chính sách về TGPL cho người nghèo và đối tượng yếu thế đến nay đã khá đầy đủ, gồm: 01 Luật , 01 Nghị định, 8 Thông tư và Thông tư liên tịch hiện hành điều chỉnh toàn diện các vấn đề của TGPL: mô hình tổ chức thực hiện TGPL, người được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, các hoạt động nghiệp vụ TGPL, chế độ chính sách đối với người thực hiện TGPL, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác TGPL... Chế định TGPL cũng đã được đồng bộ hóa trong các Bộ luật tố tụng: Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam được ban hành năm 2015 đều đã có các quy định bảo đảm thực hiện TGPL.

3. Về đối tượng được trợ giúp pháp lý

Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng diện người được TGPL, gồm 14 nhóm đối tượng, cụ thể:

- Người có công với cách mạng;

- Người thuộc hộ nghèo;

- Trẻ em;

- Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

- Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;

>> Xem thêm:  Trợ giúp pháp lý là gì ? Đăng ký trợ giúp pháp lý như thế nào ? Mẫu đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý

- Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo;

- Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính (8 nhóm người): Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; Người nhiễm HIV.

Có thể nói, diện đối tượng được TGPL của Việt Nam tương đồng với thông lệ các nước trên thế giới [1] và có tính đến đặc thù về chính sách đền ơn đáp nghĩa và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Theo thống kê của các địa phương, người thuộc diện TGPL chiếm khoảng 45% dân số.

4. Về chất lượng dịch vụ TGPL

Nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL là mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động TGPL, pháp luật về TGPL luôn được hoàn thiện để đảm bảo mục tiêu này.

- Về tiêu chuẩn người thực hiện TGPL:

Hiện nay, Trợ giúp viên pháp lý là lực lượng nòng cốt cung cấp dịch vụ TGPL hiện nay đã được chuẩn hóa tiêu chuẩn về đào tạo, chuyên môn nghiệp vụ tương đương với luật sư. Cụ thể: tiêu chuẩn bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý bao gồm:

- Có phẩm chất đạo đức tốt;

- Có trình độ cử nhân luật trở lên;

- Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý;

>> Xem thêm:  Trợ giúp pháp lý là gì? Quy định pháp luật về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

- Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý;

- Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật.

Khác với luật sư, Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, thực hiện TGPL theo sự phân công của Trung tâm TGPL nhà nước. Luật TGPL đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước tập trung thực hiện vụ việc tố tụng thông qua quy định Trợ giúp viên pháp lý không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan (Điểm d khoản 1 Điều 22).Về luật sư thực hiện TGPL: luật sư có nguyện vọng tham gia TGPL được Trung tâm lựa chọn, ký hợp đồng theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật căn cứ trên những tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể và phù hợp với yêu cầu của công tác TGPL tại địa phương. Yêu cầu này bảo đảm luật sư tham gia thực hiện TGPL phải là người có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm và phẩm chất đạo đức để thực hiện vụ việc TGPL có hiệu quả, tránh việc ghi danh một cách hình thức.

Về cộng tác viên TGPL: hiện nay chế định này yêu cầu người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về pháp luật, có kinh nghiệm và có thể chủ động về thời gian để bảo đảm tham gia công tác TGPL một cách thực chất, có hiệu quả.

- Về tổ chức tham gia TGPL:

Để bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL do các tổ chức tham gia TGPL cung cấp, Luật TGPL quy định các điều kiện cụ thể để tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL [4]. Đặc biệt, để ký hợp đồng với các tổ chức có điều kiện tốt nhất cung cấp dịch vụ TGPL, Sở Tư pháp sẽ tổ chức lựa chọn theo một quy trình chặt chẽ phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương (dự kiến số lượng tổ chức cần ký hợp đồng, đánh giá hồ sơ lựa chọn tổ chức, thông báo lựa chọn tổ chức, thông báo kết quả lựa chọn). Với những quy định chặt chẽ ngay từ khi xác định các tổ chức, cá nhân có quyền cung cấp dịch vụ TGPL, Nhà nước đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho người nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội.

5. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan

Việc phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan đối với công tác TGPL có vai trò quan trọng đối với thành công của hoạt động này. Pháp luật TGPL đã có quy định đầy đủ về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan. Cụ thể:

Thứ nhất: Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng:

- Luật TGPL quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật [6]

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về một số quy định pháp luật hiện hành về hoạt động trợ giúp pháp lý

- Trên cơ sở trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ sở tạm giam, tạm giữ đối với công tác TGPL đã được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự (Điều 71), Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam (đều được ban hành năm 2015), Luật TGPL,  trách nhiệm phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động này đã được cụ thể tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT/BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Khi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện tốt trách nhiệm được quy định tại các văn bản quan trọng này sẽ hạn chế tối đa việc người thuộc diện TGPL nhưng không nhận được sự trợ giúp. Đặc biệt Thông tư quy định cụ thể việc giải thích, thông báo, thông tin về TGPL (Điều 7 - TTLT số 10). Đây là quy định quan trọng của TTLT số 10 tạo cơ sở trong việc chuyển gửi đối tượng cho Trung tâm TGPL, hạn chế việc bỏ sót đối tượng được TGPL.

- Về giải thích: Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm chuyển Bản thông tin về người được TGPL cho người bị buộc tội, người bị hại, đương sự đọc (Bản thông tin được mẫu hóa trong đó liệt kê đầy đủ 14 diện đối tượng được TGPL theo quy định của Luật TGPL và NĐ 144/2017 và một số quyền quan trọng). TTLT 10 cũng đặt ra trường hợp người bị buộc tội, người bị hại, đương sự không đọc được thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho họ biết (có thể bằng cách đọc hoặc nói cho họ nghe) về Bản thông tin. Nếu họ nhận mình là người được TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích (đối với việc giải thích trong hình sự thì được ghi vào biên bản giải thích về quyền được TGPL và lưu tại hồ sơ vụ án).

- Về thông báo, thông tin: Trong tố tụng hình sự, người bị buộc tội, người bị hại, đương sự tự nhận mình là người được TGPL và có yêu cầu TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm, Chi nhánh để Trung tâm cử người theo quy định của pháp luật (trong thời hạn 03 ngày, cử ngay). Riêng đối với người bị bắt, người bị tạm giữ ngoài việc thông báo bằng văn bản còn thông báo bằng điện thoại để bảo đảm tính kịp thời. Trường hợp họ nhận mình là người được TGPL và chưa có yêu cầu TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông tin cho Trung tâm, Chi nhánh để họ xác minh và tiếp cận với người được TGPL.

Thứ hai: Về trách nhiệm phối hợp của cơ quan nhà nước có liên quan

Luật quy định trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nếu phát hiện công dân thuộc diện được TGPL, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL (Điều 42 Luật TGPL).

Thứ ba: Về trách nhiệm của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật trong hoạt động TGPL.

Điều 43 Luật TGPL đã quy định trách nhiệm của Liên đoàn Luật sư, Đoàn Luật sư trong việc giám sát việc thực hiện TGPL của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư (Điều 43 Luật TGPL)

Thứ tư: Trách nhiệm của Nhà nước đối với công tác TGPL

Trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động TGPL đã được ghi nhận tại Luật TGPL. Quy định này thể hiện cam kết của Nhà nước đối với chính sách an sinh quan trọng của Đảng và Nhà nước trong xóa đói giảm nghèo về pháp luật cho những người không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý trên thị trường. Nhà nước thực hiện trách nhiệm của mình thông qua: (1) thành lập hệ thống các tổ chức TGPL của Nhà nước bảo đảm sự chủ động trong việc đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân; (2) bảo đảm kinh phí cho hoạt động TGPL; (3) hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý