1. Tác giả cuốn sách
Tác giả cuốn sách Tổng quan về luật quốc tế và các văn bản pháp luật là PGS.TS Nguyễn Thị Thuận
2. Hình ảnh sách Tổng quan về luật quốc tế và các văn bản pháp luật
.jpg)
3. Tổng quan về nội dung sách
Luật quốc tế bao gồm các quy tắc, quy phạm pháp luật tồn tại dưới hình thức thành văn hoặc bất thành văn điều chỉnh quan hệ hợp tác toàn diện giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi quan hệ quốc tế phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu thì việc nghiên cứu, tìm hiểu luật quốc tế càng có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là với Việt Nam.
Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về luật quốc tế và những văn bản pháp luật quốc tế, chúng tôi xin giới thiệu đến độc giả cuốn sách “Tổng quan về luật quốc tế và các văn bản pháp luật”. Ngoài phần giới thiệu khái quát những vấn đề cơ bản của luật quốc tế, cuốn sách cũng cung cấp một số văn bản pháp luật quốc tế quan trọng, điều chỉnh các lĩnh vực hợp tác quốc tế…
Trong phần Tổng quan về luật quốc tế, tác giả khái quát các vấn đề liên quan đến khái niệm luật quốc tế, phân biệt luật quốc tế với tư pháp quốc tế, vấn đề giải quyết tranh chấp quốc tế trong hệ thống luật quốc tế. Tác giả khẳng định, sự ra đời và phát triển của luật quốc tế là tất yếu khách quan. Thông qua việc điều chỉnh quan hệ hợp tác ngày càng đa dạng, luật quốc tế không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể luật quốc tế mà còn góp phần quan trọng trong việc duy trì hòa bình an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác phát triển.
Trong phần Các văn bản pháp luật quốc tế, cuốn sách cung cấp một số văn bản pháp luật quốc tế quan trọng:
Một là, Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945)
Bản Hiến chương gồm 1 phần mở đầu, mô hình khái quát như phần giới thiệu về Hiến pháp Hoa Kỳ, và một loạt các điều khoản phân chia vào trong các chương.
Chương I: trình bày mục đích của Liên Hợp Quốc, những điều khoản quan trọng về hoà bình và an ninh thế giới.
Chương II: định ra tiêu chuẩn hội viên của Liên Hợp Quốc.
Chương III-XV: số lượng lớn tài liệu mô tả các cơ quan, tổ chức trực thuộc Liên Hợp Quốc và những quyền hạn của họ.
Chương XVI và XVII: miêu tả sự sắp xếp một Liên Hợp Quốc thống nhất, không phân biệt chủng tộc với sự công nhận của luật pháp quốc tế.
Chương XVIII và XIX: dành cho sự bổ sung và phê chuẩn Hiến chương.
Hai là, Quy chế của Tòa án quốc tế (1945)
Nội dung Quy chế của Tòa án quốc tế năm 1945 thể hiện những nội dung sau: Tổ chức của tòa án quốc tế; Quyền hạn của tòa án; Thủ tục xét xử và những kết luận tư vấn.
Ba là, Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao
Công ước Viên về quan hệ ngoại giao năm 1961 là một hiệp ước quốc tế xác định khuôn khổ cho quan hệ ngoại giao giữa các nước độc lập. Nó chỉ định các đặc quyền của một phái bộ ngoại giao cho phép các nhà ngoại giao thực hiện chức năng của họ mà không sợ bị ép buộc hoặc quấy rối bởi nước sở tại. Đây là cơ sở pháp lý cho miễn trừ ngoại giao. Văn kiện của nó được coi là nền tảng của quan hệ quốc tế hiện đại. Tính đến tháng 10 năm 2018, nó đã được phê chuẩn bởi 192 quốc gia
Bốn là, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự
Công ước quốc tế được thông qua 24/4/1963 gồm lời nói đầu và 74 điều, quy định quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự và các trình tự, thủ tục thiết lập và đình chỉ quan hệ lãnh sự, chức năng nhiệm vụ của cơ quan đại diện lãnh sự, thủ tục bổ nhiệm lãnh sự, cấp bậc người đứng đầu cơ quan lãnh sự, vv. Nội dung chính của công ước quy định các quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự dành cho cơ quan đại diện lãnh sự và viên chức lãnh sự. Đến nay đã có trên 135 nước tham gia công ước trong đó có Việt Nam.
Năm là, Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế
Công ước Viên 1969 (Luật Điều ước quốc tế) là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế bao gồm tổng thể các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc tế giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau.
- Đối tượng điều chỉnh: bao gồm các quan hệ phát sinh trong hoạt động của các chủ thể luật quốc tế tham gia vào quá trình ký kết, gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế.
- Phạm vi điều chỉnh: chỉ điều chỉnh hoạt động ký kết điều ước quốc tế giữa các quốc gia với nhau và giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế liên chính phủ hoặc giữa các tổ chức quốc tế liên chính phủ với nhau.
Sáu là, Tuyên bố về các nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc (năm 1970)
Xem đầy đủ nội dung Tuyên bố tại đây: Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương liên hợp quốc
Bảy là, Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (năm 1973)
Hiệp định Paris được ký kết sau gần 5 năm đàm phán (1968-1973). Hiệp định Paris được ký kết đã tạo ra cục diện mới làm thay đổi cơ bản tương quan lực lượng để quân và dân Việt Nam có điều kiện giải phóng miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước. Đây là dấu son chói lọi trong lịch sử ngành Ngoại giao Việt Nam, mở ra cánh cửa hòa bình cho đất nước sau nhiều năm chiến tranh ác liệt.
Tám là, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (năm 1982)
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) được 107 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam, ký kết tại Montego Bay (Jamaica) ngày 10/12/1982. Công ước bao gồm 17 phần, 320 điều khoản, 9 phụ lục và 4 nghị quyết. Công ước có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Hiện nay đã có 162 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia Công ước.
Chín là, Hiệp định Marakessh (1994)
Hiệp định Marrakesh hay Tuyên ngôn Marrakesh, là một hiệp định được ký kết ở Marrakesh, Maroc, vào ngày 15 tháng 4 năm 1994, về việc sửa đổi Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại và lập Tổ chức Thương mại Thế giới. Hiệp định chính thức có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 1995.
Mười là, Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế (năm 1998)
Là hiệp ước thành lập Tòa án hình sự quốc tế (ICC). Nó đã được thông qua tại một hội nghị ngoại giao ở la Mã, Nước Ý vào ngày 17 tháng 7 năm 1998 và nó có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2002. Kể từ tháng 11 năm 2019, 123 tiểu bang là bên tuân theo quy chế. Trong số những thứ khác, quy chế thiết lập các chức năng của tòa án, quyền hạn và kết cấu.
Quy chế Rome thiết lập bốn tội phạm quốc tế cốt lõi: sự diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh, và tội ác xâm lược. Những tội ác đó "sẽ không phải chịu bất kỳ thời hiệu".Theo Quy chế Rome, ICC chỉ có thể điều tra và truy tố bốn tội phạm quốc tế cốt lõi trong các tình huống mà các quốc gia "không thể" hoặc "không muốn" tự làm như vậy; thẩm quyền của tòa án bổ sung cho thẩm quyền của các tòa án trong nước. Tòa án chỉ có quyền tài phán đối với các tội phạm nếu chúng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên hoặc nếu chúng được thực hiện bởi công dân của một quốc gia thành viên; một ngoại lệ đối với quy tắc này là ICC cũng có thể có quyền tài phán đối với tội phạm nếu quyền tài phán của nó được Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
Mười một, Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam – Trung Quốc (ký ngày 30-12-1999)
Biên giới Việt Trung được hình thành từ lâu đời, đến thời kỳ nhà nước Văn Lang, Âu Lạc và đầu kỷ nguyên độc lập (khoảng năm 968) biên giới Việt Nam - Trung Quốc được hình thành chủ yếu theo tập quán, dựa theo ranh giới các điểm có dân cư sinh sống, ở những nơi có đường qua lại hai bên đặt các Đồn, Ải để quản lý việc qua lại.
Ngày 29/6/1887, tại Bắc Kinh/Trung Quốc, Pháp đại diện phía Việt Nam (đang đô hộ Việt Nam) đã ký Công ước hoạch định biên giới với nhà Thanh đại diện phía Trung Quốc (gọi là công ước năm 1887) trong đó chưa có vùng Phong Thổ và Mường Tè/Lai Châu.
Đến năm 1895, hai bên ký công ước bổ sung cho công ước 1887 hoạch định dứt điểm biên giới Việt Nam - Trung Quốc và biên giới Lào - Trung Quốc. Thực hiện Công ước 1887 - 1895, hai bên đã thống nhất cắm 314 cột mốc trên biên giới từ Lai Châu đến Quảng Ninh. Sau khi ký Công ước 1887 và Công ước bổ sung 1895 đến trước khi Việt Nam giành được độc lập, Pháp và nhà Thanh không ký thêm văn bản pháp lý nào liên quan đến việc thay đổi hoặc sửa đổi đường biên giới.
Sau khi cách mạng hai nước thành công (Việt Nam năm 1945, Trung Quốc năm 1949), năm 1957 - 1958 hai Đảng gửi thư cho nhau thoả thuận: “Duy trì nguyên trạng đường biên giới lịch sử để lại” tôn trọng và quản lý đường biên giới theo Công uớc Pháp - Thanh (1887-1895).
Năm 1991, hai nước bình thường hóa quan hệ, thông qua thương lượng giải quyết hòa bình vấn đề biên giới, Chính phủ nước cộng hòa XHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ký "Hiệp định tạm thời về việc giải quyết các công việc trên vùng biên giới”. Sau đó, hai nước đồng ý đẩy nhanh tiến trình đàm phán giải quyết cả biên giới trên bộ, trên biển, trước mắt giải quyết biên giới trên bộ và Vịnh Bắc Bộ.
Ngày 30/12/1999, đại diện hai nước đã ký "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa".
Mười hai, Hiệp định về dẫn độ giữa nước CHXHCN Việt Nam và Đại Hàn dân quốc (năm 2003)
Nội dung hiệp định thể hiện các trường hợp dẫn độ tội phạm mà Việt Nam và Hàn Quốc thống nhất, trường hợp phải từ chối dẫn độ đồng thời quy định về thủ tục thực hiện dẫn độ.
Mười ba, Nghị định thư ASEAN về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp (năm 2004)
Nghị định thư ASEAN về Tăng cường Cơ chế Giải quyết Tranh chấp (gọi tắt là EDSM) được các nước ASEAN ký ngày 29/11/2004 và có hiệu lực kể từ ngày ký. EDSM gồm 21 Điều khoản và 2 Phụ lục, quy định về quy trình và thủ tục giải quyết tranh chấp trong Hiệp định khung về Tăng cường Hợp tác Kinh tế ASEAN và các Hiệp định kinh tế của ASEAN được liệt kê cụ thể trong ADSM, trừ khi các Hiệp định này có quy định khác.
So với cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN theo EDSM có quy trình các bước tương tự như WTO nhưng một số thời hạn ngắn hơn nhiều so với WTO. Do đó, thời gian giải quyết tranh chấp trong ASEAN sẽ nhanh chóng hơn sơn với trong WTO.
Và một số văn bản pháp luật khác như:
- Hiệp định về quy chế quản lý biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (năm 2009)
- Hiệp định giữa CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Thái Lan về chuyển giao người bị kết án phạt tù và hợp tác thi hành án hình sự (năm 2010)
- Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp cho Hiến chương ASEAN (năm 2010).
4. Đánh giá người đọc
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Việt Nam luôn đi theo đường lối đối ngoại hòa bình, chủ động tích cực hội nhập khu vực và quốc tế. Từ sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã gia nhập một số tổ chức liên chính phủ như Liên Hợp Quốc, ASEAN, WTO…, ký kết và gia nhập nhiều điều ước quốc tế điều chỉnh các lĩnh vực chính trị kinh tế, an ninh, phòng chống tội phạm… Chính vì vậy, việc tìm hiểu luật quốc tế và các văn bản pháp luật là rất cần thiết. Cuốn sách Tổng quan về luật quốc tế và các văn bản pháp luật với nhiều thông tin, nhiều văn bản pháp luật quan trọng sẽ là một tài liệu hữu ích với bạn đọc.
5. Kết luận
Như tại mục 4 đã nêu, tìm hiểu về pháp luật quốc tế là cần thiết trong giai đoạn hội nhập hiện nay. Không chỉ hữu ích đối với những người học luật, làm luật, nghiên cứu pháp luật mà với tính chất chứa đựng nhiều thông tin khái quát và chính thống về luật quốc tế, cuốn sách có một lượng thông tin khá đầy đủ và đủ lớn để đáp ứng bạn đọc có nhu cầu muốn tìm hiểu đôi chút về pháp luật quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về cuốn sách "Tổng quan về luật quốc tế và các văn bản pháp luật". Hy vọng với những chia sẻ khái lược của chúng tôi về cuốn sách sẽ giúp bạn chọn lựa cho mình cuốn sách hữu ích!