1.Cấu trúc, bố cục của chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được chia thành 8 tiểu mục, trong đó Tiểu mục 1 là Quy định chung, điều chỉnh các nội dung như: Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Điều 292), Phạm vị nghĩa vụ được bảo đảm (Điều 293), Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai (Điều 294), Tài sản bảo đảm (Điều 295)… Các tiểu mục còn lại được thiết kế gắn với các biện pháp bảo đảm cụ thể, trong đó:

Quy định các vấn đề liên quan đến biện pháp cầm cố tài sản;

Quy định các vấn đề liên quan đến biện pháp thế chấp tài sản;

Quy định các vấn đề liên quan đến biện pháp đặt cọc, ký cược, ký quỹ;

Quy định các vấn đề liên quan đến biện pháp bảo lưu quyền sở hữu;

Quy định các vấn đề liên quan đến biện pháp bảo lãnh;

Quy định các vấn đề liên quan đến biện pháp tín chấp;

Quy định các vấn đề liên quan đến biện pháp cầm giữ tài sản;

Như vậy, số lượng các điều luật của chế định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tăng 04 điều so với Bộ luật Dân sự năm 2005 (từ 55 điều lên 59 điều), nhưng về cơ bản thì kết cấu không thay đổi.

2.Quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm:

- Cầm cố tài sản;

- Thế chấp tài sản;

- Đặt cọc;

- Ký cược;

- Ký quỹ;

- Bảo lưu quyền sở hữu;

- Bảo lãnh;

- Tín chấp;

- Cầm giữ tài sản.

Với việc sắp xếp các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo thứ tự nêu trên cho thấy Bộ luật Dân sự năm 2015 đã phân loại biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thành 02 nhóm là:

(1) Nhóm biện pháp bảo đảm được xác lập theo thỏa thuận gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp;

(2) Nhóm biện pháp bảo đảm được xác lập theo quy định của luật gồm cầm giữ tài sản (không phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên).

3.Về các quy định liên quan đến phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ, tuỳ theo thoả thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảmhoặc theo quy định của pháp luật (Điều293 khoản 1). Trong trường hợp bảo đảm đối vật thì việc chỉ định tài sản bào đảm hàm ý rằng biện pháp bảo đảm chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị tài sản bảo đảm: nếu giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm, thì phần chênh lệch là phần nghĩa vụ không được bảo đảm thực hiện: đối với phần chênh lệch đó, bên có quyền thực hiện quyền trong tư thế một chủ nợ thường.

Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ đã được xác lập ở thời điểm xác lập biện pháp bảo đảm, có thể được xác lập cùng một lúc với biện pháp bảo đảm hoặc có thể được xác lập trong tương lai (khoản 2 Điều 293). Theo khoản 3 Điều 293 đối với trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ được hình thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác. “Thoả thuận khác” có thể là thoả thuận về tính chất của nghĩa vụ được bảo đảm (nghĩa vụ theo hợp đồng chẳng hạn) hoặc giá trị tối đa của nghĩa vụ được bảo đảm. 

4.Tổng quan về phạm vi bảo đảm

Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định một tài sản có đáng ký quyền sở hữu có thể được cầm cố, thế chấp để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ dân sự. Nhưng Nghị định số 165/1999/NĐ-CP đã mở rộng bằng việc quy định cả những tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu cũng có thể được dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ.

Cũng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, một tài sản có thể dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ thuộc về nhiều đối tượng, chứ không chỉ hạn chế đối với một đối tượng được bảo đảm. Nhưng, Nghị định số 178/1999/NĐ-CP lại quy định “thắt chặt” hơn Bộ luật Dân sự và Nghị định sô 165/1999/NĐ-CP1 về phạm vi cầm cố, thế chấp: trong mọi trường hợp, một tài sản chỉ được dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tại một tổ chức tín dụng. Nếu tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì có thể được dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ trả nợ nhưng cũng chỉ tại một tổ chức tín dụng. Nếu tài sản không có đăng ký quyền sở hữu thì chỉ được dùng để bảo đảm cho một nghĩa vụ.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, đối với trường hợp nhận bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba (không phải là bên được cấp tín dụng), thì bên nhận bảo đảm rất cần phải ghi rõ phạm vi bảo đảm là trả nợ gốc, nợ lãi (trong hạn và quá hạn), tiền phạt và bồi thường thiệt hại (nếu có) để tránh nguy cơ tranh chấp, phức tạp, thậm chí dẫn đến vô hiệu sau này.

Biện pháp bảo đảm có thể được thực hiện trước hoặc sau khi phát sinh giao dịch được bảo đảm và trước hoặc
sau khi phát sinh nghĩa vụ được bảo đảm theo thỏa thuận của các bên. Trường hợp giao dịch bảo đảm được thiết lập sau khi phát sinh nghĩa vụ được bảo đảm thì thực ra là đã có một thỏa thuận chấp nhận kéo dài thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã phát sinh, nên giao dịch bảo đảm được thiết lập thực chất là để bảo đảm cho nghĩa vụ được gia hạn.

Một nghĩa vụ có thể được bảo đảm thực hiện bằng nhiều tài sản. Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của từng tài sản trong số các tài sản bảo đảm được xác định theo thỏa thuận của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận thì bất kỳ tài sản nào trong số đó được dùng để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Nhiều biện pháp bảo đảm, nhiều người hoặc nhiều tài sản bảo đảm có thể bảo đảm cho một nghĩa vụ dân sự. Ngược lại, một biện pháp bảo đảm, một người hoặc một tài sản bảo đảm cũng có thể bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ dân sự.

Ngoài tài sản thế chấp là vật chính, thì còn có thể có một số tài sản kèm theo như vật phụ của tài sản thế chấp, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thế chấp và giá trị tiền bảo hiểm của tài sản thế chấp.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền vổĩ đất cũng thuộc tài sản thê chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, nếu bên nhận thế chấp nhận thê chấp toàn bộ hoặc chỉ nhận thế chấp vật chính hoặc chỉ nhận thế chấp quyền sử dụng đất, thì vật phụ và tài sản gắn liền với đất cũng thuộc về tài sản thế chấp. Tuy nhiên, khi nhận thê chấp thì vẫn cần liệt kê và mô tả rõ vật phụ thuộc tài sản thế chấp và tài sản gắn liền với đất cũng thuộc về tài sản thế chấp, để hạn chế bớt rủi ro tranh cãi sau này.

Trường hợp việc mô tả tài sản gắn liền với đất không được tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan đăng ký thế chấp chấp nhận, trong điều khoản mô tả về tài sản thế chấp (do chưa được ghi nhận trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất), thì cần đưa vào điều khoản khác trong hợp đồng thế chấp hoặc thỏa thuận trong văn bản khác kèm theo hợp đồng thế chấp để hạn chế bớt việc tranh chấp về tài sản thế chấp khi phải xử lý.

5.Về tài sản bảo đảm

Tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai. Trừ trường hợp bảo lưu quyền sở hữu hoặc cầm giữ tài sản, thì tài sản dùng để bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm ( khoản 1 Điều 295). Trong các trường hợp bảo đảm đối vật, tài sản bảo đảm phải là vật đặc định, nghĩa là phân biệt được với các vật khác; còn trong trường hợp bảo đảm đối nhân, tài sản bảo đảm là tất cả tài sản thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Dù được chỉ định rõ hay không tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành trong tương lai.

Một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Theo khoản 1 Điều 296 BLDS thì một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Điều luật đòi hỏi các bên khi bảo đảm một số nợ quá lớn so với giá trị tài sản bảo đảm, phải biết rõ, hiểu rõ việc mình làm. Nếu các bên không có thoả thuận rõ ràng, thì luật chủ động can thiệp bằng cách giới hạn phạm vi bảo đảm đến hết giá trị của tài sản bảo đảm.

Trong trường hợp dùng một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ, thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau về việc tài sản bảo đảm đang được dùngđể bảo đảm n

Quy định về hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm (Điều 297) và thứ tự ưu tiên thanh toán (Điều 308)

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 có 02 phương thức làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm gồm: (1) Đăng ký biện pháp bảo đảm và (2) Nắm giữ (hoặc chiếm giữ) tài sản bảo đảm. Cụ thể là: “Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm” (Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015). Trong khi đó, “đăng ký biện pháp bảo đảm là việc cơ quan đăng ký ghi vào sổ đăng ký hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu về việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đm(khoản 1 Điều 3 Nghị đính số 102/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ). Như vậy, đăng ký biện pháp bảo đảm và hành vi nắm giữ (hoặc chiếm giữ) tài sản bảo đảm có giá trị pháp lý như nhau khi xác định thời điểm đối kháng với người thứ ba.

Ví dụ: Ông A thế chấp tài sản tại Ngân hàng B. Hợp đồng thế chấp được đăng ký ngày 01/02/2018. Tuy nhiên, ngày 15/01/2018, ông A đã cầm cố tài sản này cho ông C, tài sản do ông C trực tiếp nắm giữ, kiểm soát. Trong tình huống này, khi xét về hiệu lực đối kháng thì ông C có vị trí cao hơn Ngân hàng do thời điểm nắm giữ phát sinh trước thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Như vậy, nội hàm của khái niệm “hiệu lực đối kháng” được xác định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là “quyền truy đòi tài sản” và “quyền thanh toán”. Tại Điều 308, Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định

ghĩa vụ khác ( khoản 2 Điều 296). Việc áp đặt nghĩa vụ này cho bên bảo đảm nhằm tạo điều kiện cho bên nận bảo đảm nắm vững và đầy đủ thông tin cần thiết về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm.