1. Đối tượng được coi là người lao động cao tuổi
Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 148 Bộ luật Lao động năm 2019 đã định nghĩa người lao động cao tuổi như sau: "Người lao động cao tuổi là những người tiếp tục lao động sau khi vượt qua độ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật lao động 2019". Theo quy định này, người lao động cao tuổi được hiểu là những người tiếp tục làm việc sau khi đủ tuổi nghỉ hưu trong điều kiện bình thường.
Điều kiện tuổi nghỉ hưu của người lao động theo Bộ luật Lao động mới đã thay đổi so với quy định trước đây, không còn áp dụng tuổi nghỉ hưu cố định là 55 tuổi đối với phụ nữ và 60 tuổi đối với nam giới. Thay vào đó, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường sẽ tăng dần theo lộ trình được đặt ra. Đến năm 2035, người lao động nữ sẽ đủ tuổi nghỉ hưu là 60 tuổi, trong khi người lao động nam sẽ đủ tuổi nghỉ hưu là 62 tuổi. Cụ thể, trong năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường là 60 tuổi 03 tháng đối với nam giới và 55 tuổi 04 tháng đối với phụ nữ. Từ đó, mỗi năm sẽ có sự tăng thêm 03 tháng đối với nam giới và 04 tháng đối với phụ nữ, để đạt được tuổi nghỉ hưu theo lộ trình đã định trước. Độ tuổi nghỉ hưu của người lao động theo Bộ luật Lao động mới sẽ không còn cố định như trước đây là 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam. Thay vào đó, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường sẽ được tăng dần theo lộ trình là đủ 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035 và đủ 62 tuổi đối với nam vào năm 2035.
2. Thời gian làm việc của người lao động cao tuổi
Quy định về thời gian làm việc cho người lao động cao tuổi, theo khoản 2 Điều 148 BLLĐ năm 2019, có thể được diễn đạt như sau:
- Người lao động cao tuổi được phép thỏa thuận với nhà tuyển dụng về việc rút ngắn thời gian làm việc hàng ngày hoặc áp dụng hình thức làm việc không toàn thời gian.
- Theo quy định này, người lao động cao tuổi và nhà tuyển dụng có thể thỏa thuận để rút ngắn thời gian làm việc hoặc áp dụng hình thức làm việc không toàn thời gian. Điều này có nghĩa là so với người lao động thông thường, người lao động cao tuổi sẽ có thời gian làm việc ít hơn.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 148 Bộ luật lao động năm năm 2019 cũng khuyến khích sử dụng người lao động cao tuổi theo cách phù hợp với sức khỏe để đảm bảo quyền lợi của người lao động và tận dụng tối đa nguồn nhân lực. Việc khuyến khích sử dụng người lao động cao tuổi phù hợp với sức khỏe nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp tục đóng góp và tham gia vào quá trình làm việc. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tối ưu hóa sử dụng nguồn nhân lực, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người lao động cao tuổi.
Đồng thời, Bộ luật Lao động năm 2019 không có các hạn chế đặc biệt về việc sử dụng lao động cao tuổi làm thêm giờ. Tuy nhiên, khi sử dụng những người lao động này làm thêm giờ, người sử dụng lao động cần tuân thủ các điều kiện quy định tại Khoản 2, Điều 107 Luật này:
- Nhất thiết phải có sự đồng ý của người lao động.
- Đảm bảo tổng số giờ làm thêm không vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày. Trong trường hợp áp dụng thời gian làm việc theo tuần, tổng số giờ làm việc bình thường và làm thêm không được vượt quá 12 giờ mỗi ngày hoặc 40 giờ mỗi tháng.
- Đảm bảo tổng số giờ làm thêm của người lao động không vượt quá 200 giờ mỗi năm cho công việc bình thường, và không vượt quá 300 giờ mỗi năm đối với một số ngành công nghiệp như may mặc, điện tử, xuất khẩu hàng dệt, cung cấp điện, viễn thông, cấp thoát nước và các ngành công nghiệp tương tự.
Do đó, người sử dụng lao động được phép sử dụng lao động cao tuổi làm thêm giờ nếu nhân viên đồng ý, đồng thời phải đảm bảo tuân thủ các quy định về số giờ làm thêm.
3. Việc trả lương cho người lao động cao tuổi theo quy định mới được thực hiện thế nào?
Theo quy định tại Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi lao động theo quy định. Người lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hàng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian. Và Nhà nước khuyến khích sử dụng người lao động cao tuổi làm việc phù hợp với sức khỏe, nhằm bảo đảm quyền lao động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
Đồng thời, tại khoản 2 Điều 169 của BLLĐ năm 2019 cũng quy định về tuổi nghỉ hưu như sau:
- Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường sẽ được điều chỉnh theo lộ trình, đạt đủ 62 tuổi đối với nam lao động vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với nữ lao động vào năm 2035.
- Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ. Sau đó, mỗi năm sẽ tăng thêm 03 tháng đối với nam và 04 tháng đối với nữ.
Ngoài ra, tại Điều 149 của BLLĐ năm 2019 còn có các quy định sau:
- Khi sử dụng người lao động cao tuổi, hai bên có thể thỏa thuận ký kết hợp đồng lao động có thời hạn.
- Trong trường hợp người lao động cao tuổi đã hưởng lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và tiếp tục làm việc theo hợp đồng lao động mới, người lao động cao tuổi sẽ được hưởng lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật và hợp đồng lao động.
- Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động cao tuổi cho các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người lao động cao tuổi, trừ trường hợp đảm bảo các điều kiện làm việc an toàn.
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm và chăm sóc sức khỏe của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc. Điều này bao gồm việc đảm bảo môi trường làm việc an toàn, cung cấp các thiết bị bảo hộ và đào tạo về an toàn lao động cho người lao động cao tuổi.
Vì vậy, để xác định việc trả lương cho người lao động cao tuổi, cần xem xét theo hợp đồng lao động mà đơn vị đã ký kết để xác định các quyền lợi và trách nhiệm của người lao động cao tuổi. Hợp đồng lao động sẽ xác định mức lương và các điều kiện làm việc khác, bao gồm việc sử dụng lao động cao tuổi và đảm bảo quyền lợi của họ theo quy định của BLLĐ năm 2019. Trong đó, việc chi trả lương cho người lao động cao tuổi sẽ không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng: Cụ thể;
Mức lương trả cho người lao động cao tuổi ở vùng 1 không được thấp hơn 4.680.000 đồng/tháng; 22.500 đồng/giờ;
Mức lương trả cho người lao động cao tuổi ở vùng 2 không được thấp hơn 4.160.000 đồng/tháng; 20.000 đồng/giờ;
Mức lương trả cho người lao động cao tuổi ở vùng 3 không được thấp hơn 3.640.000 đồng/tháng; 17.500 đồng/giờ;
Mức lương trả cho người lao động cao tuổi ở vùng IV không được thấp hơn 3.250.000.đồng/tháng.15.600 đồng/giờ.
4. Có phải đóng bảo hiểm khi sử dụng người lao động cao tuổi
Dựa vào quy định tại khoản 2 Điều 149 của Bộ luật Lao động năm 2019, chúng ta có thể xem xét các trường hợp sau đây:
Trường hợp 1: Người lao động đang hưởng lương hưu:
Nếu người lao động cao tuổi đáp ứng đồng thời về độ tuổi và số năm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định, họ sẽ được hưởng lương hưu hàng tháng từ hệ thống bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 149 BLLĐ năm 2019, nếu người lao động cao tuổi đang hưởng lương hưu và tiếp tục làm việc theo hợp đồng lao động mới, họ sẽ được hưởng cả tiền lương và các quyền lợi khác theo pháp luật và hợp đồng lao động.
Ngoài ra, theo khoản 9 Điều 123 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người đang nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp hằng tháng và đang ký kết hợp đồng lao động mới sẽ không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Do đó, nếu người lao động cao tuổi đã hưởng lương hưu hàng tháng, doanh nghiệp không cần đóng bảo hiểm xã hội cho họ.
Tuy nhiên, thay vì đóng bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp sẽ phải trả cho người lao động một khoản tiền tương đương với khoản tiền mà người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 168 BLLĐ năm 2019. Điều này đảm bảo rằng người lao động cao tuổi vẫn được hưởng các quyền lợi và bảo đảm an sinh xã hội khi làm việc trong doanh nghiệp.
Trường hợp 2: Người lao động chưa hưởng lương hưu
Trong trường hợp người lao động cao tuổi chưa hưởng lương hưu, chúng ta sẽ xem xét trường hợp khi họ ký kết hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động khi ký kết hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên sẽ thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Luật Bảo hiểm xã hội cũng quy định rõ rằng người đang hưởng lương hưu không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Vì vậy, nếu người lao động cao tuổi chưa hưởng lương hưu hằng tháng nhưng đã ký kết hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, người sử dụng lao động vẫn phải đóng bảo hiểm xã hội cho họ. Điều này đảm bảo rằng người lao động cao tuổi được bảo đảm quyền lợi xã hội và an sinh xã hội trong quá trình làm việc.
Quý khách có nhu cầu có thể tham khảo nội dung bài viết sau đây của Luật Minh Khuê: Người sử dụng lao động có bắt buộc phải sử dụng người lao động cao tuổi hay không ?
Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Chân thành cảm ơn quý khách hàng đã hợp tác cùng công ty chúng tôi.