Cơ sở pháp lý

 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

1. Khái niệm phạm tội chưa hoàn thành

 

1.1. Phân loại các trường hợp phạm tội chưa đạt

- Căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội đối với việc chưa đạt có 2 loại phạm tội chưa đạt như sau:
+ Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: Là trường hợp phạm tội chưa đạt trong đó vì những nguyên nhân khách quan mà người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả. Chẳng hạn: trộm cắp tài sản nhưng khi mở được cửa vào nhà chưa kịp lấy tài sản thì bị phát hiện và bắt giữ.
+ Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành: Là trường hợp phạm tội chưa đạt mà người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả nhưng do nguyên nhân khách quan mà hậu quả không xảy ra. Ví dụ: mở được cửa vào trong nhà lấy tài sản nhưng tài sản không còn ở đó nữa.
 Tuy cùng là giai đoạn phạm tội chưa đạt nhưng xét về mặt tính chất và mức độ thì lại hoàn toàn khác nhau. Có nhiều cách hiểu khác nhau về giai đoạn phạm tội này, theo TS khoa học Lê Cảm “Phạm tội chưa đạt đã thành là trường hợp cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội nhưng họ đã thực hiện hết các hành vi dự định làm”. Còn phạm tội chưa đạt chưa thành “là trường hợp người phạm tội có ý thức thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội và họ cũng chưa thực hiện hết những hành vi dự định làm”.
 
Có thể hiểu phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp người phạm tội vì nguyên nhân khách quan, chưa thực hiện hết các hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, chưa hoàn thành về hành vi), ví dụ: A rình mò, đi theo B để cướp tài sản, nhưng do đường đi sáng sửa và nhiều người qua lại nên A không thực hiện hành vi của mình nữa. Và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp người phạm tội đã thực hiện đầy đủ những hành vi mà họ cho là cần thiết để gây hậu quả, nhưng vì nguyên nhân khách quan (ngoài ý muốn) hậu quả đó không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, hoàn thành về hành vi), ví dụ: A đã cho thuốc độc vào giếng nước nhà B để hại B, hôm đó B có múc nước giếng để nấu ăn nhưng do liều lượng thuốc đọc không đủ làm chết B nên B không chết

1.2. Khác nhau cơ bản giữa các giai đoạn phạm tội 

Qua quá trình nghiên cứu có thể nhận thấy điểm khác nhau cơ bản giữa các giai đoạn phạm tội chính là ở những yếu tố khách quan của hành vi phạm tội bao gồm:
- Tính chất nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội;
- Mức độ thực hiện ý định phạm tội của chủ thể thực hiện hành vi; 3) Thời điểm chấm dứt của những hành vi đó.
Từ phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm phạm tội chưa hoàn thành là hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt của cá nhân, pháp nhân thương mại cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội nhưng họ đã thực hiện hết hoặc chưa hết các hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội mà họ dự định làm.

2. Đặc điểm của phạm tội chưa hoàn thành

Thứ nhất, khác với phạm tội chưa đạt đã hoàn thành thì người phạm tội chưa hoàn thành chưa bắt tay vào thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong cấu thành tội phạm mà chỉ có các hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm; hành vi chuẩn bị chưa trực tiếp xâm hại đến quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ, chưa làm thay đổi, biến dạng đối tượng tác động của tội phạm; hậu quả của tội phạm chưa xảy ra, do chưa thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong cấu thành tội phạm nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chưa xảy ra.
 
Thứ hai, người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm. Sự bắt đầu thể hiện ở chỗ người phạm tội đã thực hiện hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm. Hoặc là người phạm tội thực hiện hành vi liền trước hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, đó là những hành vi thể hiện sự bắt đầu của hành vi khách quan và kế tiếp ngày sau nó hành vi khách quan sẽ xảy ra; hành vi của họ chưa thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm; người phạm tội mới chỉ thực hiện được một hành vi trong những hành vi quy định trong cấu thành tội phạm.
 
Thứ ba, nguyên nhân của việc không thực hiện tội phạm đến cùng là những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội. Điều đó có ý nghĩa rằng về ý thức người phạm tội luôn luôn mong muốn cho việc thực hiện tội phạm được xảy ra chót lọt nhưng bị các điều kiện khách quan cản trở khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng.
 
Thứ tư, hậu quả của hành vi phạm tội chưa xảy ra hoặc người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải là hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm. Tùy theo tính chất từng loại tội phạm mà luật hình sự quy định hậu quả là dấu hiệu bắt buộc (trong cấu thành vật chất) hay không bắt buộc (trong cấu thành hình thức) của một tội phạm. Trường hợp hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì hành vi phạm tội chưa đạt nếu có gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì hậu quả đó cũng chưa phù hợp với dấu hiệu hiệu quả được quy định trong luật.

3. Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành

Hiện nay, BLHS năm 2015 chưa có điều luật cụ thể nào quy định về khái niệm tội phạm chưa hoàn thành, nhưng đã có những quy định cụ thể về các giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt (quy định tại Điều 14 và Điều 15 BLHS 2015). Như vậy, BLHS năm 2015 đã có sự phân biệt giữa tội phạm chưa hoàn thành với tội phạm đã hoàn thành, điều này tạo cơ sở cho việc xác định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ở những giai đoạn phạm tội khác nhau, với tính chất mà mức độ nguy hiểm khác nhau.
 
Tại Điều 14 của BLHS năm 2015 quy định về chuẩn bị phạm tội như sau: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 Bộ luật này...”.
 
BLHS năm 2015 quy định về phạm tội chưa đạt như sau: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt”.
Từ đó, có thể hiểu tội phạm chưa hoàn thành là khi người phạm tội mới bắt đầu hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm hay đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người đó. Cơ sở để xác định một người đã thực hiện tội phạm chưa hoàn thành (mới bắt đầu hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm hay không thực hiện được đến cùng) là ở chỗ người đó đã thỏa mãn hết các dấu hiệu của một cấu thành của một tội phạm cụ thể hay chưa, trường hợp một người mới bắt đầu hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm hoặc thực hiện hành vi chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể, do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người đó thì tội phạm do người đó thực hiện là tội phạm chưa hoàn thành, hành vi của người đó là hành vi chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt.
 
Về trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn phạm tội chưa hoàn thành: Trách nhiệm hình sự được hiểu là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của mình.
 
Theo quy định của BLHS năm 2015 thì người thực hiện tội phạm chưa hoàn thành phải chịu trách nhiệm hình sự đối với việc thực hiện tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội (với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) và phạm tội chưa đạt, đó là một dạng trách nhiệm pháp lý mà người phạm tội phải gánh chịu khi thực hiện hành vi phạm tội và người phạm tội sẽ bị tước bỏ một số quyền hoặc lợi ích hợp pháp nhất định. Về khách quan, hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, chúng đe dọa trực tiếp gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Về chủ quan, người chuẩn bị phạm tội và người phạm tội chưa đạt đã có ý thức lựa chọn hành vi xử sự trái với các quy tắc và chuẩn mực chung xã hội (có lỗi). Người chuẩn bị phạm tội và người phạm tội chưa đạt chưa thực hiện được tội phạm đến cùng hoàn toàn do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của họ.
 
Việc xác định người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy trách nhiệm hình sự. Chỉ đối với những tội phạm thực hiện do lỗi cố ý thì mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì khi cố ý phạm tội thì người phạm tội mới thường tiến hành một số hoạt động như: bàn bạc với người khác, tìm kiếm, sửa soạn phương tiện phạm tội hoặc tạo những điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện tội phạm. Trong tội phạm chưa hoàn thành thì giai đoạn chuẩn bị phạm tội là giai đoạn có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với phạm tội chưa đạt vì chưa trực tiếp xâm hại đến khách thể của loại tội định thực hiện. Do vậy, luật hình sự Việt Nam chỉ đặt vấn đề trách nhiệm hình sự cho những trường hợp chuẩn bị phạm tội khi tội định phạm là một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
 
Khi hành vi của người phạm tội đã chuyển sang giai đoạn thực hiện thì hành vi đó đã thực sự nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, Điều 15 BLHS 2015 quy định trừng trị tất cả các trường hợp phạm tội chưa đạt, người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Mặc dù Bộ luật hình sự không quy định cụ thể, nhưng xét việc thực hiện hành vi được cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm, thì tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm ở trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành cao hơn trường hợp phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, cho nên phải xử phạt nặng hơn.
 
Các giai đoạn thực hiện tội phạm ở các mức độ khác nhau thì cũng phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Từ đó luật hình sự Việt Nam quy định việc xác định hình phạt được áp dụng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội nhẹ hơn hình phạt đối với trường hợp phạm tội chưa đạt và hình phạt được áp dụng đối với cả hai trường hợp phạm tội này đều nhẹ hơn hình phạt được áp dụng đối với tội phạm hoàn thành.
 
Như vậy, từ những phân tích trên thì người thực hiện tội phạm chưa hoàn thành sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu biểu hiện đầy đủ các yếu tố sau:
- Tội phạm thực hiện hành vi phạm tội mà hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại được BLHS quy định.
- Giai đoạn thực hiện của tội phạm là giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt (quy định tại Điều 14 và Điều 15 BLHS 2015)
- Người phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và làm chủ được hành vi của mình. Luật hình sự Việt Nam quy định người có năng lực trách nhiệm hình sự là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS 2015) và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 BLHS 2015).
- Người phạm tội đạt độ tuổi nhất định, người chưa đạt độ tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự sẽ luôn luôn được coi là không có lỗi, vì người đó chưa có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo đó, BLHS Việt Nam quy định 14 tuổi là tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi 16 là tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.
- Người phạm tội phải có lỗi, người phạm tội đã lựa chọn, quyết định và thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội, mặc dù trong trường hợp đó người phạm tội có thể lựa chọn, quyết định và thực hiện hành vi phù hợp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hình sự.