1. Quy định pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa như thế nào?
Vận chuyển hàng hóa là loại dịch vụ trong đó các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ này tiến hành các công việc cần thiết để chuyển hàng hóa từ địa điểm này sang địa điểm khác theo thỏa thuận với những tổ chức, cá nhân có nhu cầu để hưởng thù lao dịch vụ. Hoạt động vận chuyển hàng hóa được thực hiện trên cơ sở hợp đồng.
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó một bên (bên vận chuyển) có nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa tới địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao hàng hóa đó cho người có quyền nhận ; còn bên kia (bên thuê vận chuyển) có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển và các khoản phụ phí khác cho bên vận chuyển.
Theo đó, hợp đồng vận chuyển tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, còn bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.
2. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa có đặc điểm gì?
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa có những đặc điểm pháp lý đặc trưng của hợp đồng vận chuyển tài sản như:
- Là hợp đồng song vụ, mang tính đền bù, và trong từng trường hợp cụ thể có thể là hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế. Cũng giống như mọi hợp đồng dịch vụ khác, trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa, các bên đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Bên vận chuyển phải chuyển hàng hóa đến địa điểm theo thỏa thuận và được nhận thù lao. Bên thuê vận chuyển phải thanh toán thù lao và được nhận hàng tại địa điểm do mình ấn định. Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng này các bên đều đạt được những lợi ích kinh tế nhất định: bên vận chuyển nhận được thù lao, bên thuê vận chuyển thì chuyển được hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.
Trong một số hoạt động vận chuyển như vận chuyển công cộng theo từng tuyến đường, nghĩa vụ của hai bên chỉ phát sinh khi bên thuê vận chuyển đã giao hàng hóa cho bên vận chuyển. Với những trường hợp này, hợp đồng vận chuyển được giao kết giữa các bên là hợp đồng thực tế, còn những hợp đồng mang tính chất tổ chức vận chuyển hoặc đặt chỗ trên phương tiện vận chuyển (như hợp đồng thuê nguyên tàu hoặc thuê một phần tàu cụ thể) lại là hợp đồng ưng thuận.
- Hợp đồng vận chuyển có thể là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. Người thứ ba được hưởng lợi ích trong hợp đồng này là người có quyền nhận hàng hóa vận chuyển. Mặc dù người đó không tham gia vào giao kết hợp đồng nhưng có quyền yêu cầu bên vận chuyển phải bàn giao hàng hóa vận chuyển cho mình khi đến hạn và tại địa điểm như trong hợp đồng.
Đặc điểm riêng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa so với hợp đồng vận chuyển tài sản như sau:
Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa là việc vận chuyển hàng hóa từ địa điểm này đến địa điểm khác theo thỏa thuận của các bên, tức là việc dịch chuyển vị trí địa lý của hàng hóa theo thỏa thuận của các bên với tính chất là một loại dịch vụ.
Có nhiều cách thức phân loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa khác nhau: Căn cứ vào phương tiện vận chuyển (vận chuyển đường sắt, đường hàng không,…); căn cứ vào dấu hiệu lãnh thổ (vận chuyển nội địa, vận chuyển quốc tế) ; căn cứ vào hành trình vận chuyển (vận chuyển đơn tuyến, vận chuyển có kết hợp nhiều phương tiện trên từng đoạn hành trình…).
3. Trách nhiệm khi giao hàng có liên quan đến người vận chuyển
Tại Điều 36 Luật thương mại năm 2005 quy định về trách nhiệm khi giao hàng có liên quan đến người vận chuyển, theo đó:
+Trường hợp 1: Bên bán sẽ không phải thông báo cho bên mua về việc đã giao hàng hóa cho người vận chuyển và bên bán sẽ phải xác định rõ về tên và cách thức nhận biết hàng hóa được vận chuyển đối với trường hợp hàng hóa được giao cho người vận chuyển nhưng không được xác định rõ bằng ký mã hiệu trên hàng hoá, chứng từ vận chuyển hoặc cách thức khác. Nếu giữa bên bán và bên mua không thỏa thuận được với nhau về phương thức vận chuyển, trách nhiệm khi giao hàng có liên quan đến người vận chuyển thì trong trường hợp này khi giao hàng cho bên vận chuyển nhưng không hề biết được mã số, kỹ hiệu trên hàng hóa hoặc những giấy tờ như chứng từ có liên quan đến hàng hóa thì bên bán sẽ chỉ có nghĩa vụ xác định về tên của hàng hóa và cách thức nhận biết về loại hàng hóa đó.
+ Trường hợp 2: Bên bán phải ký kết hợp đồng cần thiết có liên quan đến việc chuyên chở được thực hiện tới đích bằng các phương tiện chuyện chở thích hợp với hoàn cảnh cụ thể và theo điều kiện thông thường đối với phương thức chuyên chở đó đối với trường hợp bên bán có nghĩa vụ thu xếp việc chuyên chở hàng hóa. Theo đó, ở trường hợp này, khi các bên có thỏa thuận với nhau về việc bên bán sẽ có nghĩa vụ thu xếp việc chuyên chở hàng hóa cho bên mua, thì khi đó, các bên( đặc biệt là bên bán) sẽ phải có những hợp đồng ký kết về việc vận chuyển hàng hóa. Hợp đồng này là hợp đồng vận chuyển, chuyên chở hàng hóa của bên bán và bên chuyên chở hàng hóa, theo đó, nội dung của hợp đồng này là bên bán và bên chuyên chở hàng hóa tự thỏa thuận với nhau về phương tiện chuyên chở, cách thức vận chuyển hàng hóa sao cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể và đảm bảo về việc chuyên chở, giao hàng đúng và đủ cho bên mua như trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua đã ký kết.
+ Trường hợp 3: Khi bên bán và bên mua ký kết hợp đồng mua bán nhưng có thỏa thuận về việc bên bán không có nghĩa vụ mua bảo hiểm cho hàng hóa trong quá trình vận chuyển hàng hóa, đối với trường hợp này, nếu bên mua có yêu cầu về việc cung cấp thông tin về hàng hóa để bên mua mua bảo hiểm cho hàng hóa đó thì bên bán sẽ phải có nghĩa vụ cung cấp tất cả những thông tin liên quan đến hàng hóa đó và việc vận chuyển hàng hóa đó cho bên mua. Điều này được quy định nhằm tạo điều kiện cho bên mua mua bảo hiểm cho những loại hàng hóa đó theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định.
Như vậy, có thể thấy, việc giao kết hợp đồng trong mua bán hàng hóa nói chung và việc quy định về trách nhiệm khi giao hàng có liên quan đến vận chuyển nói riêng là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng đối với các bên khi tham gia vào quan hệ mua bán hàng hoá. Bởi lẽ, về bản chất hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về những điều khoản trong hợp đồng. Do đó, hợp đồng mua bán hàng hóa có vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại hàng hoá. Đây chính là nhân tố cơ bản tạo ra kinh tế thị trường. Có thể thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa qua nhiều thời kỳ đã tồn tại phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau. Bằng lời nói hay bằng văn bản thì nó cũng hàm chứa những quy tắc chặt chẽ này và buộc các bên ký kết phải tôn trọng nếu không muốn bị tẩy chay và đặt ra ngoài vòng của “thị trường” đó. Bất cứ tổ chức hay cá nhân nào tham gia thị trường, bằng một lời nói, một hành vi đơn giản hay bằng giấy tờ văn bản mà làm xuất hiện một sự lưu thông hàng hóa thì hợp đồng mua bán hàng hóa được xem là đã phát sinh. Giá trị của nó thực tế đã tồn tại và bảo đảm cho sự theo đuổi hiệu quả của các bên trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá. Không có hợp đồng mua bán hàng hóa hình thức của giao dịch - thì không có hoạt động thương mại trong mua bán hàng hoá.
Ngoài ra, quý khách hàng có thể tham khảo thêm nội dung bài viết sau của Luật Minh Khuê: Vận chuyển hàng hóa quốc tế là gì? Hình thức vận chuyển hàng hóa quốc tế
Trên đây là những thông tin hữu ích Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách hàng. Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm bài viết để hiểu rõ hơn. Nếu quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc nào hay đang gặp phải vấn đề pháp lý nào cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ kịp thời. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách