1. Trách nhiệm cổ đông của công ty cổ phần dựa trên vốn điều lệ ?

Kính chào luật sư! Em tên K. Em xin luật sư tư vấn giúp em về việc thành lập công ty cổ phần vì em theo dõi thì biết công ty luật mình rất nhiệt tình và tốt về luật. Chuyện như sau: Em và 2 người bạn cùng ý tưởng thành lập công ty cổ phần về nông sản.

Phía sau của em thì có nguồn hàng đầy đủ và tụi em quyết định thành lập công ty. Theo ý kiến của 2 người bạn thì chúng em thành lập công ty cổ phần với vốn điều lệ là 1 tỷ đồng. Nhưng thực tế vốn tiền mặt của tụi em mỗi người gần 100 triệu thôi. Hôm nay người bạn em đưa em đơn đề nghị thành lập công ty và ghi rõ số cổ phần và chữ ký để nộp lên xin giấy thành lập. Em muốn hỏi luật sư:

1. Đơn này nếu em ký rồi có quan trọng không vì sau khi đề nghị tụi em còn phải xác nhận thêm 1 mẫu nữa. Em chưa hiểu rõ về quy định của pháp luật về vốn điều lệ lắm. Em đang thắc mắc là khi chịu trách nhiệm pháp lý thì dựa trên vốn điều lệ hay dựa trên vốn thực tại?

2. Khi thành lập, em cần lưu ý điều gì để tránh bị lừa mất trắng 100 triệu hoặc nặng hơn là phá sản công ty thì em lại phải bồi thường dựa trên 1 tỷ vốn điều lệ ạ?

3. Trường hợp có người lợi dụng danh nghĩa công ty để đi làm việc riêng thì như thế nào để tránh điều đó ạ?

Em không hiểu nhiều về luật này. Mong luật sư tư vấn giúp em ạ. Em chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Khi chịu trách nhiệm pháp lý thì dựa trên vốn điều lệ hay vốn thực tại ?

Khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:

"Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại. Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty."

Điểm c khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp quy định:

"Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp".

Đối với việc đăng ký thành lập công ty cổ phần như bạn hỏi thì theo quy định tại khoản 4 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2014 thì nếu cổ đông chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kế từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì cổ đông vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn trên. Như vậy, nếu bạn đã đăng ký mua bao nhiêu cổ phần thì bạn phải thực hiện nghĩa vụ góp đủ số cổ phần trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Nếu không, bạn vẫn phải chịu trách nhiệm tài sản tương đương với mức cổ phần bạn đã cam kết góp đối với các trách nhiệm tài sản của công ty phát sinh trong thời hạn 90 ngày đó. Các bạn có 3 người thành lập công ty với mức vốn điều lệ đăng ký là 1 tỷ đồng nên trong thời gian 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp các bạn phải chịu trách nhiệm tương đương với mức cổ phần bạn đã cam kết góp.

2. Khi thành lập, cần lưu ý điều gì để tránh bị lừa mất trắng 100 triệu?

Trong hồ sơ đăng ký thành lập công ty, các bạn phải gửi bản sao thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của các cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân và kèm danh sách cổ đông sáng lập, theo đó, phải ghi rõ các thông tin sau:

+ Họ, tên, chữ ký, địa chỉ, quốc tịch, địa chỉ thường trú và các đặc điểm cơ bản khác của cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân

+ Tên, mã số doanh nghiệp và địa chỉ trụ sở chính của cổ đông là tổ chức

+ Họ, tên, chữ ký, địa chỉ, quốc tịch, địa chỉ thường trú của người đại diện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật của cổ đông là tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân

+ Số lượng cổ phần, loại cổ phần, loại tài sản, số lượng tài sản, giá trị của từng loại tài sản góp vốn cổ phần của từng cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối.

Như vậy, các thông tin cá nhân cũng được bảo đảm phần nào để tránh tình trạng bị lừa, hơn nữa, trường hợp của bạn, các cổ đông thành lập đều là bạn bè của bạn và bạn biết thông tin cá nhân của họ nên việc bị lừa cũng được hạn chế. Tuy nhiên, nếu bạn vẫn bị lo bị lừa thì bạn chưa thanh toán luôn số cổ phần cam kết mua mà bạn thanh toán dần trong khoảng thời gian 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

3. Trường hợp có người lợi dụng danh nghĩa công ty để đi làm việc riêng thì như thế nào để tránh điều đó ?

Trường hợp này, các bạn cần ghi rõ trong điều lệ công ty về cách thức xử lý. Nếu cổ đông lợi dụng danh nghĩa công ty đi làm việc riêng mà gây thiệt hại cho công ty thì công ty có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, công ty có quyền áp dụng quy định của pháp luật về quyền yêu cầu tuyên giao dịch dân sự vô hiệu nếu giao dịch đó không do người của công ty có thẩm quyền giao kết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần làm như thế nào ? Hồ sơ, thủ tục tăng vốn

2. Thủ tục tăng giảm vốn điều lệ trong công ty cổ phần như thế nào ?

Kính gửi Luatminhkhue! Tôi xin được tư vấn về vấn đề đăng ký giảm vốn điều lệ công ty cổ phần. Công ty tôi thành lập tháng 9/2014 (đến nay T10/2016) thì chưa được 3 năm thì có được làm thủ tục giảm vốn điều lệ do chưa góp đủ hay không ? Thủ tục giảm thế nào ? Và mức phạt do công ty chúng tôi chưa góp đủ là bao nhiêu ?
Rất mong được luật sư hồi đáp. Chân thành cám ơn!

Trả lời:

Công ty bạn được thành lập năm 2014 thời điểm này luật doanh nghiệp 2005 vẫn còn hiệu lực, do đó theo quy định của luật doanh nghiệp 2005 thì trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Tuy nhiên từ ngày 1/7/2015 luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực thì quy định công ty cổ phần phải tiến hành góp đủ số cổ phần đã cam kết trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận kinh doanh, nếu không góp đủ thì phải tiến hành thay đổi lại vốn điều lệ trong thời hạn 30 ngày tiếp theo. Hiệu lực thi hành của Luật doanh nghiệp 2014 được quy định như sau:

" Điều 212. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015. Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật doanh nghiệp số 37/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực, trừ các trường hợp sau đây:

a) Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực, thời hạn góp vốn thực hiện theo quy định tại Điều lệ công ty;

b) Các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn điều lệ phải thực hiện tái cơ cấu để bảo đảm tuân thủ đúng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 189 của Luật này trước ngày 01 tháng 7 năm 2017;

c) Các công ty không có cổ phần hoặc phần vốn góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện góp vốn, mua cổ phần trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 không phải thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 189 của Luật này nhưng không được tăng tỷ lệ sở hữu chéo."

Theo đó công ty cổ phần của bạn hoàn toàn được phép giảm vốn điều lệ cho đúng với số cổ phần thực tế góp của công ty theo quy định của luật doanh nghiệp 2014 được.

Xin chào văn phòng luật Minh Khuê, Tôi ở Hải Phòng có câu hỏi muốn được giải đáp như sau. Bố tôi đã nghỉ hưu và có cổ phần tại công ty muốn chuyển nhượng lại cổ phần cho tôi tại phòng giao dịch chứng khoán.Vậy có được không,nếu được thì cần những thủ tục giấy tờ gì? Xin chân thành cảm ơn !

Thứ nhất về vấn vấn đề chuyển nhượng cổ phần thì cổ đông trong công ty cổ phần thì được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, chỉ có một số giới hạn đối với cổ đông sáng lập trong thời 3 năm đầu thành lập hoặc đối với cổ phần ưu đãi biểu quyền thì không được phép chuyển nhượng cho người khác. Do đó nếu như bố bạn không thuộc trường hợp hạn chế trên thì có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần cho bạn được. Hình thức chuyển nhượng cổ phần thì có thể thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán.

" Điều 126. Chuyển nhượng cổ phần

1. Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.

2. Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký. Trường hợp chuyển nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán."

Đối với trường hợp của bạn mà đã xác định cụ thể là chuyển nhượng cổ phần từ bố bạn sang cho bạn rồi thì nên thực hiện thủ tục chuyển nhượng bằng hợp đồng chuyển nhượng thông thường, vì nếu chuyển nhượng qua sàn giao dịch chứng khoán là thực hiện việc chào bán cổ phần chỉ nên thực hiện khi chưa tìm được người nhận chuyển nhương thôi.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có mua một lượng cổ phần tại một công ty đã lưu ký tại trung tâm lưu ký CK nhưng em chỉ làm hợp đồng mua bán và giữ giấy chứng nhận cổ phần của người sở hữu ? Xin Công ty luật tư vấn giúp em!

>> Việc chuyển nhượng thì phải được giao kết bằng hợp đồng chuyển nhượng, và sau đó thì nếu trường hợp người chuyển nhượng cổ phần là cổ đông sáng lập thì công ty phải tiến hành thông báo thay đổi tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông sáng lập trong công ty với sở kế và đầu tư. Nếu người chuyển nhượng là cổ phần phổ thông thì chỉ cần thực hiện thủ tục thay đổi trong nội bộ công ty, bạn phải liên hệ với phía công ty để công ty cấp cho bạn cổ phiếu ghi danh tên bạn và số cổ phần mà bạn nắm giữ như sau:

" Điều 120. Cổ phiếu

1. Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty;

b) Số lượng cổ phần và loại cổ phần;

c) Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu;

d) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số quyết định thành lập, địa chỉ trụ sở chính của cổ đông là tổ chức;

đ) Tóm tắt về thủ tục chuyển nhượng cổ phần;

e) Chữ ký của người đại diện theo pháp luật và dấu của công ty (nếu có);

g) Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu;

h) Các nội dung khác theo quy định tại các Điều 116, 117 và 118 của Luật này đối với cổ phiếu của cổ phần ưu đãi."

Kinh chào Công ty Luật Minh Khuê, Công ty em đang gặp khó khăn trong việc chuyển nhượng CP Phiền anh chị giải đáp giúp em một số vấn đề mà bên em đang gặp phải: Công ty em Thành lập tháng 11/2015, vốn điều lệ 250Ty, Hiện tại bên em chưa góp vốn, Do hoạt động không hiệu quả, nên bây giờ bọn em chuyển xuống mô hình TNHH 1 thành viên Về việc chuyển nhượng cổ phẩn cho thành viên mới có gặp khó khăn và ảnh hưởng gì không ạ (Vì có một anh Cổ đông anh hỏi là chưa góp vốn, mà bh nhượng CP thu về máy chục tỷ khống thì ảnh hưởng như thế nào?) ẢNh hưởng Đến thuế, vi phạm pháp luật ra sao? Anh chị tư vấn giúp em được không ạ ? Em cảm ơn

>> Bạn phải lưu ý trong trường hợp này công ty cổ phần là công ty có tổi thiểu 3 cổ đông sáng lập, còn công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì chỉ có một thành viên góp vốn thành lập. Do đó công ty cổ phần chỉ có thể chuyển đổi thành công ty TNHH 1 thành viên trong các trường hợp sau:

" Điều 197. Chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

1. Công ty cổ phần có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo phương thức sau đây:

a) Một cổ đông nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp tương ứng của tất cả các cổ đông còn lại;

b) Một tổ chức hoặc cá nhân không phải là cổ đông nhận chuyển nhượng toàn bộ số cổ phần của tất cả cổ đông của công ty;

c) Công ty chỉ còn lại một cổ đông trong thời gian vượt quá thời hạn yêu cầu số lượng tối thiểu công ty cổ phần theo quy định tại Điều 110 của Luật này."

Sau khi xác định được căn cứ chuyển đổi của mình thì bạn thưc hiện thủ tục theo hướng dẫn sau:

" Điều 25. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp

4. Trường hợp chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần và ngược lại, hồ sơ đăng ký chuyển đổi bao gồm:

a) Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp;

b) Điều lệ công ty chuyển đổi theo quy định tại Điều 25 Luật Doanh nghiệp;

c) Quyết định của chủ sở hữu công ty hoặc Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên hoặc của Đại hội đồng cổ đông về việc chuyển đổi công ty;

d) Danh sách thành viên hoặc danh sách cổ đông sáng lập, danh sách cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài và bản sao hợp lệ các giấy tờ theo quy định tại Khoản 4 Điều 22 và Khoản 4 Điều 23 Luật Doanh nghiệp;

đ) Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp hoặc các giấy tờ chứng minh hoàn tất việc chuyển nhượng hoặc thỏa thuận góp vốn đầu tư."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quy định về tăng, giảm vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên ?

3. Giảm vốn điều lệ như thế nào ?

Kính gửi luật sư, Doanh nghiệp chúng tôi là công ty TNHH 1 thành viên HT, được thành lập từ năm 2008 tại tỉnh Trà Vinh. Vốn điều lệ của công ty chúng tôi đã đăng ký là 12 tỷ đồng. Tuy nhiên cho tới nay chúng tôi mới chỉ góp được 2 tỷ và vẫn chưa góp đủ số vốn nói trên do kinh doanh thua lỗ.
Chúng tôi rất muốn đăng ký giảm vốn của mình xuống nhưng do luật doanh nghiệp cũ không cho phép giảm vốn và chúng tôi cũng rất hạn chế về hiểu biết pháp luật. Nay được biết theo luật mới công ty TNHH 1 thành viên có thể giảm vốn xuống nên chúng tôi muốn hỏi: Liệu chúng tôi có thuộc trường hợp được giảm vốn theo quy định của Luật doanh nghiệp mới hay không? Nếu được thì chúng tôi phải chuẩn bị những thủ tục gì và nếu không thì chúng tôi phải làm thế nào để giảm được số vốn của mình ?
Chúng tôi rất mong quý luật sư xem xét và sớm trả lời cho chúng tôi. Trân thành cảm ơn quý luật sư!

Thủ tục tăng giảm vốn điều lệ trong công ty cổ phần như thế nào ?

Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp gọi: 1900.6162

Trả Lời:

1. Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể thay đổi vốn điều lệ bằng cách giảm vốn điều lệ khi đáp ứng một trong các điều kiện sau:

"Điều 87. Thay đổi vốn điều lệ

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thay đổi vốn điều lệ trong các trường hợp sau đây:

a) Hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho chủ sở hữu;

b) Vốn điều lệ không được chủ sở hữu thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định tại Điều 74 của Luật này."

Do đó, với trường hợp của bạn thì công ty bạn có thể tiến hành giảm vốn điều lệ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 87.

Theo điều 74 Luật doanh nghiệp 2014:

"Chủ sở hữu phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Trường hợp không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, chủ sở hữu công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ. Trường hợp này, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ."

Do đó, sau 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, mà vốn hiện tại chỉ góp được 2 tỷ thì người đại diện theo pháp luật của công ty bạn sẽ đến cơ quan đăng ký kinh doanh đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho công ty bạn để đăng ký giảm vốn điều lệ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, giám đốc công ty bạn phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ.

Do vậy, công ty bạn hoàn toàn có thể giảm vốn điều lệ theo các quy định đã nêu trên.

2. Thủ tục thay đổi vốn điều lệ:

Điều 44 Nghị định 78/2015/NĐ-CP đăng ký doanh nghiệp quy định:

"1. Trường hợp công ty đăng ký thay đổi tỷ lệ vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của các thành viên hợp danh công ty hợp danh, công ty gửi Thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký. Nội dung Thông báo gồm:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số Giấy chứng nhận đăng kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp, mã số thuế);

b) Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch, số Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 10 Nghị định này hoặc số quyết định thành lập, mã số doanh nghiệp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh;

c) Tỷ lệ phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc của mỗi thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh;

d) Vốn điều lệ đã đăng ký và vốn điều lệ đã thay đổi; thời điểm và hình thức tăng giảm vốn;

đ) Họ, tên, quốc tịch, số Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp phápkhác quy định tại Điều 10 Nghị định này, địa chỉ thường trú và chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc thành viên hợp danh được ủy quyền đối với công ty hợp danh.

2. Trường hợp đăng ký thay đổi vốn điều lệ công ty, kèm theo Thông báo quy định tại Khoản 1 Điều này phải có Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần; Quyết định của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên về việc thay đổi vốn điều lệ của công ty; văn bản của Sở Kế hoạch và Đầu tư chấp thuận về việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đối với trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Tăng vốn điều lệ của công ty TNHH 2 thành viên trở lên ?

4. Vốn điều lệ trong công ty cổ phần là gì ?

Vấn đề vốn điều lệ được đề cập trên TBKTSG trong hai số báo gần đây với hai ý kiến trái ngược nhau về quy định của Nghị định 43/2010/NĐ-CP là không được tính giá trị của số cổ phần được quyền chào bán vào vốn điều lệ.

Ý kiến không tán thành của ông Trần Thanh Tùng được nêu trong số báo 1-2011, ý kiến ủng hộ của ông Nguyễn Văn Quyết trong số 2-2011 và cả hai đều nêu lý do. Cùng góp với hai ý kiến trên, tôi xin nêu nhận định của mình dựa trên tính chất tài chính cùng pháp lý của vốn và theo cách nhìn của luật học.

>> Tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp gọi số: 1900.6162

Vốn là phương tiện để kinh doanh

Chúng ta đều biết vốn là tiền bạc dùng cho việc kinh doanh. Đó là tính chất tài chính của nó. Vì công việc của mình, doanh nhân - ngoài tiền túi bỏ ra - còn kêu gọi người khác góp tiền hay cho vay. Đi vay thì phải trả gốc và lãi, gọi vốn thì phải chia cổ tức. Số tiền lãi phải trả và cổ tức phải chia được gọi là chi phí sử dụng vốn. Công ty là một phương tiện để doanh nhân huy động vốn.

Về mặt tài chính, công ty có thể kinh doanh mãi mãi, với điều kiện nó trả nợ được khi đáo hạn. Nguồn tiền từ đâu nó có để làm thì không chủ nợ nào đặt ra. Việc sử dụng tiền của người khác để kinh doanh (hay chiếm dụng vốn) là sự tài giỏi của công ty và được khuyến khích.

Khi bàn về vốn ta sẽ nhìn nó trong tính chất này. Vốn là tiền. Gọi nó là điều lệ hay pháp định là để phân biệt “đòi hỏi về vốn” mà luật pháp của ta đặt ra cho những loại công ty khác nhau. Tiền được chia thành nhiều phần nhỏ có giá trị bằng nhau và được gọi là cổ phần, là mệnh giá. Cổ phần cũng là vốn. Nhiều tên gọi nhưng đều quy chiếu về một gốc.

Khi mở công ty, những người lập ra nó phải quyết định cần bao nhiêu tiền để cho nó hoạt động. Đây là “yêu cầu tất yếu để kinh doanh” (YCTY). Vì chỉ cần trả được nợ khi bị đòi nên công ty không cần phải có đủ số tiền mà YCTY đòi hỏi; nó có thể gọi vốn từ từ, theo từng đợt, tùy nhu cầu hoạt động.

Hơn nữa, chưa cần mà gọi góp ngay thì - về lý thuyết - phải chia cổ tức, nên chi phí sử dụng vốn sẽ cao. Vậy về tính chất tài chính của vốn, ta ghi nhận ba điểm: (i) là phương tiện kinh doanh; (ii) có thể kinh doanh mãi miễn là trả nợ được; và (iii) công ty sẽ gọi vốn từ từ. Từ đây ta sẽ đi sang tính chất pháp lý của vốn.

Vốn dùng để trả nợ

Tính trả nợ của vốn là do luật quy định để bảo vệ người có tiền cho vay. Công ty phải có vốn để trả nợ thì mới đi vay được. Điều 93 của Luật Doanh nghiệp có dự liệu việc này, dẫu nó không nói rõ như luật của các nơi khác rằng không được chia lãi nếu làm giảm vốn điều lệ.

Cũng vì yêu cầu trả nợ, luật buộc công ty phải tuyên bố số vốn của nó khi thành lập cho mọi người biết. Đòi tuyên bố chứ không đòi ghi vào sổ kế toán; sở dĩ vậy vì đã tuyên bố là quy trách nhiệm được; chứ ghi sổ sách kế toán là chuyện nội bộ của công ty, người ngoài làm sao biết được. Các chủ nợ - trên lý thuyết - trông vào số vốn này để cho công ty vay nhiều hay ít. Vì công ty tự nó đã có YCTY, nên khi bị buộc phải tuyên bố số vốn, nó khai YCTY kia ra. Vốn này do công ty khai báo nên luật của ta gọi nó là vốn điều lệ.

Vì vốn dùng để trả nợ, nên khi bị đòi nợ công ty phải lấy tiền đang có ra trả, nếu không đủ thì lấy vốn điều lệ ra; và khi nó làm như vậy thì cổ đông sẽ mất vốn. Vào lúc ấy, và chỉ khi ấy, cổ đông mới chịu trách nhiệm, và chịu trách nhiệm với chủ nợ.

Trách nhiệm góp vốn vào công ty không làm cổ đông mất tiền. Thời điểm cổ đông phải chịu mất tiền là lúc công ty bị tòa án tuyên bố phá sản. Vậy về tính chất pháp lý của vốn trong công ty ta biết bốn điều: (i) nó dùng để trả nợ; (ii) trách nhiệm của các cổ đông chỉ phát sinh khi công ty bị phá sản và thực sự là mất số tiền góp vốn; (iii) cùng lắm là mất hết số đó chứ không phải về nhà lấy tiền thêm; và (iv) khi công ty còn hoạt động, cổ đông chỉ có quyền (quyết định, chia cổ tức...) chứ không có trách nhiệm.

Gộp các tính chất ở trên, luật công ty của các nước phát triển, nhất là khối nói tiếng Anh, khi quy định về vốn đã thể hiện chúng trong luật, hay cho phép làm trong thực tế. Ở đây xin dùng hình ảnh cho dễ hiểu. Luật quy định vốn điều lệ là vốn mà công ty có quyền phát hành (authorized capital). Nó giống như một cái chai thủy tinh. Đồng thời luật cho phép các cổ đông góp vốn từ từ theo tính chất kinh doanh và gọi đó là vốn đã góp (paid-up capital). Đây là nước đổ vào trong chai. Vậy bao lâu còn “nước” thì công ty cứ hoạt động, hết “nước” mà không kiếm ở đâu ra thì mới bị tuyên bố phá sản.

Như thế là dù cái chai không chứa đầy nước thì công ty vẫn hoạt động được. Và khi công bố thông tin, các công ty phải cho biết vốn có quyền phát hành và vốn đã góp, tức là cho biết cái chai và số nước trong đó. Chỉ khi nào bán chứng khoán trên thị trường thì nó mới phải công bố các thông tin khác. Vẫn dùng hình ảnh trên, ta đi vào quy định về vốn điều lệ theo luật của ta.

Quy định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP

Lấy thời điểm là lúc công ty đăng ký kinh doanh thì điều 5 quy định:

- Vốn điều lệ của công ty là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong điều lệ công ty; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành.

- Số cổ phần được quyền phát hành: tổng số cổ phần do cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua tại thời điểm đăng ký kinh doanh và số cổ phần sẽ phát hành thêm trong thời hạn ba năm. Số cổ phần được quyền phát hành của công ty cổ phần là số cổ phần mà đại hội đồng cổ đông quyết định sẽ phát hành để huy động thêm vốn. Dựa vào các tính chất của vốn đã nêu ở trên, ta có thể đưa ra những nhận xét sau về luật của ta.

Một, theo định nghĩa và khó lòng nói khác, điều 5 đã du nhập vào trong luật của ta khái niệm “authorized capital” (số cổ phần được quyền phát hành - tức là cái chai) và “paid- up capital” (vốn pháp định - là số nước trong chai). Ở đó, từ ngữ “authorized” được dịch đúng y là “được quyền phát hành”; nhưng “capital” đáng lẽ là “vốn” thì được gọi là “số cổ phần”; sang đến “paid- up capital” thì gọi “giá trị mệnh giá - đã đăng ký mua - được ghi trong điều lệ công ty - và thanh toán đủ trong vòng 90 ngày”. Luật của họ quy định đơn giản mà mình phải viết lòng vòng nhưng không sai ý nghĩa (vì quy về một gốc) là vì nghị định này - luật con - du nhập một cái mới mà Luật Doanh nghiệp - là mẹ - không có! Mới của ta nhưng cũ của người.

Hai, nghị định coi “số nước” đựng trong “chai” là vốn pháp định chứ không phải “cái chai”. Thoạt nhìn thì đúng. Phải có “nước” thì mới trả nợ được, cái chai làm sao trả? Nước là thật, cái chai là ảo. Như tác giả Nguyễn Văn Quyết nhận định. Khi quy định như thế thì có một thực tế mà các nhà soạn luật đã không biết hay bỏ qua! Ấy là khi công ty phải trả nợ, mà “cái chai” chưa đầy nước, thì nó sẽ buộc cổ đông phải đổ “nước” vào cho đầy. Khi ấy cái chai sẽ có đầy nước và “authorized capital” trở thành “paid-up capital”!

Ba, quy định như thế tạo ra ba hậu quả. Một, về lý thuyết, chủ nợ mất đi một số nợ, đó là số chênh lệch giữa chai còn vơi và chai đầy nước. Hai là, luật cho ba năm để đổ đầy nước vào chai, mà chỉ cho đăng ký nước đã đổ vào chai thì trong thời gian ba năm kia, công ty sẽ phải đi đăng ký nhiều lần, mỗi khi cái chai có thêm nước. Ba là, công ty không thể gọi thêm vốn, vì không có cái chai (do không được đăng ký) thì làm sao để gọi thiên hạ đổ nước vào? Các sở kế hoạch đầu tư sẽ kẹt, các công ty cũng sẽ kẹt đúng như tác giả Trần Thanh Tùng nhận xét!

Để kết luận, có thể nói sự du nhập “authorized capital” dưới tên “số cổ phần được quyền phát hành” sau khi Luật Doanh nghiệp được ban hành là một cố gắng học hỏi đáng ghi nhận. Nhưng có điều tiếc là người ta đã không biết cách tưởng tượng ra cái chai và việc đổ nước vào đó; chỉ nhìn vào nước mà không vào cái chai sẽ đổ đầy nước!

(MKLAW FIRM: Biên tập)

>> Xem thêm:  Thủ tục giảm vốn điều lệ công ty TNHH 2 (hai) thành viên trở lên

5. Vốn điều lệ có thể góp bằng tiền mặt không ?

Kính chào Luật Sư. Xin phép luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi có đăng ký thành lập công ty vào tháng 03/2016. Với số vốn điều lệ là 1 tỷ đồng. Do không được tư vấn kỹ, nên tôi đã đăng ký góp số vốn đó 100% bằng tiền mặt, mà quên không tính việc góp bằng tài sản có sẵn của mình là máy móc và nguyên vật liệu ( do trước đó chúng tôi hoạt đông kinh doanh dưới hình thức cơ sở tư nhân). Đến nay số lượng tiền mặt góp vào không đủ, nếu tính cả những tài sản vốn có thì mới đủ.
Vậy nếu không góp đủ số vốn đó bằng tiền mặt liệu tôi có bị phạt không , và tôi có thể thay đổi hình thúc góp vốn để góp thêm số tài sản vào cho đủ số vốn đã đăng ký không?. Toàn bộ số tiền góp vốn có nhất thiết phải chuyển vào tài khoản Công ty không , hay góp bằng tiền mặt cũng được . Kính mong Luật Sư tư vấn giúp cho cách giải quyết tình huống này sao cho hợp lý nhất ?
Tôi xin trân trọng cảm ơn. Mong hồi âm. Bích Ngọc kính thư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Vậy nếu không góp đủ số vốn đó bằng tiền mặt liệu tôi có bị phạt không , và tôi có thể thay đổi hình thúc góp vốn để góp thêm số tài sản vào cho đủ số vốn đã đăng ký không?

Theo Khoản 2 - Điều 23 - Nghị định số 155/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế quy định:

"Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không góp đủ số vốn như đã đăng ký"

Điều 23. Vi phạm các quy định về thành lập doanh nghiệp

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Tiếp tục hoạt động khi đã kết thúc thời hạn hoạt động ghi trong Điều lệ mà không được gia hạn;

b) Không góp đúng hạn số vốn đã đăng ký.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không góp đủ số vốn như đã đăng ký.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc đăng ký gia hạn hoạt động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này;

b) Buộc đăng ký giảm vốn điều lệ theo quy định đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc buộc góp đủ số vốn như đã đăng ký đối với các loại hình doanh nghiệp khác có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều này;

c) Buộc định giá lại tài sản góp vốn đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều này;

d) Buộc đăng ký thành lập doanh nghiệp đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều này.

Vì vậy, nếu như bạn không góp đủ vốn như đã đăng ký trong thời hạn 90 ngày thì bạn sẽ bị phạt hành chính.

Dựa trên sự trình bày của bạn, công ty bạn là công ty TNHH một thành viên, bạn định góp 100% vốn điều lệ bằng tiền mặt. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 của Quốc hội không có điều khoản cho phép bạn thay đổi loại tài sản góp, mà quy định rõ tại khoản 2 điều 74:
"Chủ sở hữu phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp".
Do đó, nếu bạn không thể góp 1 tỷ bằng tiền mặt thì bạn phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ. Sau đó, bạn ms định giá tài sản ban đầu và làm thủ tục tăng vốn điều lệ.

2. Toàn bộ số tiền góp vốn có nhất thiết phải chuyển vào tài khoản Công ty không , hay góp bằng tiền mặt cũng được

Theo quy định tại Nghị định số 222/2013/NĐ-CP quy định về thanh toán bằng tiền mặt

Điều 6. Giao dịch tài chính của doanh nghiệp

1. Các doanh nghiệp không thanh toán bằng tiền mặt trong các giao dịch góp vốn và mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp vào doanh nghiệp.

2. Các doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng không sử dụng tiền mặt khi vay và cho vay lẫn nhau.

Vậy chỉ có các doanh nghiệp không được góp vốn bằng tiền mặt còn các cá nhân vẫn được gọp vốn bằng tiền mặt. Vì vậy việc bạn góp vốn bằng tiền mặt theo đúng quy định của pháp luật

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu điều lệ công ty cổ phần bản cập nhật mới nhất năm 2020