- 1. Cơ sở pháp lý về tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người lao động
- 2. Nghĩa vụ tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người lao động
- 3. Người lao động mới vào làm có giấy khám sức khỏe rồi có phải tham gia khám sức khỏe định kỳ luôn không?
- 4. Xử lý trường hợp NLĐ không đồng ý thực hiện một số hạng mục khám sức khỏe định kỳ
- 3.1. Người lao động có nghĩa vụ phải tham gia khám sức khỏe định kỳ không?
- 3.2. Xử phạt hành chính hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động
Thưa luật sư, pháp luật lao động hiện hành quy định như thế nào về nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động? Ví dụ trong doanh nghiệp có người lao động mới được tuyển dụng vào đã cung cấp giấy khám sức khỏe rồi thì có phải tham gia đợt khám sức khỏe định kỳ của công ty cùng thời điểm đó hay không? Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Tôi xin cảm ơn!
Người hỏi: Huỳnh Tuấn - Bình Dương
1. Cơ sở pháp lý về tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người lao động
- Bộ luật lao động 2019
- Luật an toàn vệ sinh lao động 2015
2. Nghĩa vụ tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người lao động
Theo quy định của Luật an toàn vệ sinh lao động thì ngươi sử dụng lao động phải tổ hức khám sức khỏe cho người lao động út nhất 01 năm 01 lần. Đối với người lao động nào làm các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi phải được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng 01 lần. Như vậy, việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ hằng năm cho người lao động là quy định bắt buộc người sử dụng lao động phải thực hiện.
3. Người lao động mới vào làm có giấy khám sức khỏe rồi có phải tham gia khám sức khỏe định kỳ luôn không?
Trên thực tế, việc khám sức khỏe cho người lao động là vấn đề rất được người sử dụng lao động quan tâm. bên cạnh việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ hằng năm cho người lao động theo quy định, đa số người sử dụng lao động còn yêu cầu người lao động phải thực hiện việc kiểm tra sức khỏe trước khi tuyển dụng. Thông thường, người lao động được yêu cầu nộp giấy khám sức khỏe kèm theo hồ sơ xin việc cho người sử dụng lao động. Mục đích của yêu cầu này là nhằm kiểm tra sức khỏe tổng quát, đảm bảo người lao đọng có đủ sức khỏe đáp ứng với yêu cầu công việc mà người lao động ứng tuyển.
Tuy nhiên, khi thực hiện khám sức khỏe thường sẽ xảy ra một số trường hợp đó là người lao động đã thực hiện khám sức khỏe tuyển dụng và sau đó lại được tuyển dụng vào làm việc tại doanh nghiệp mà doanh nghiệp lại có lịch khám sức khỏe định kỳ đúng thời điểm mới vào làm. Như vậy, trường hợp đó thì người lao đọng có phải tham gia kỳ khám sức khỏe định kỳ của doanh nghiệp trong năm đó không? Đây là thắc mắc của nhiều khách hàng vì nếu không khám thì khi kiểm tra doanh nghiệp lại phải giải trình mà khám thì cũng khá lãng phí chi phí vì người lao động mới được khám tổng quát trước đó.
Hiện nay, khi khám sức khỏe tuyển dụng cũng hư khám sức khỏe định kỳ, người lao động được yêu cầu phải thực hiện các nội dung khám sức khỏe tại một cơ sở khám chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động và có đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư 14/2013/TT-BYT. Xem xét nội dung khám sức khỏe tuyển dụng và khám sức khỏe định kỳ, cụ thể tại khoản 3 Điều 6 Thông tư 14/2013/TT-BYT quy định đối với nội dung khám sức khỏe định kỳ, người lao động sẽ thực hiện việc khám sức khỏe theo các nội dung có trong sổ khám sức khỏe định kỳ theo mẫu quy định. Đối với các trường hợp khám sức khỏe khác cho người trên 18 tuổi sẽ được thực hiện khám theo nội dung ghi trong giấy khám sức khỏe dùng cho người từ đủ 18 tuổi trở lên nếu không thuộc trường hợp khám sức khỏe theo bộ tiêu chuẩn sức khỏe chuyên ngành hoặc khám sức khỏe theo nội dung được yêu cầu
Ngoài ra, trong một số trường hợp người sử dụng lao động có thể yêu cầu nội dung khám cụ thể khác thì người lao động sẽ yêu cầu cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện việc khám theo các nội dung người sử dụng lao động yêu cầu.
Sau khi hoàn thành các nội dung khám sức khỏe, người lao động sẽ được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện theo quy định cấp giấy khám sức khỏe có giá trị trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày ký. Tuy nhiên, về mặt nguyên tắc đây vẫn là hai kỳ khám sức khỏe khác nhau với các nội dung và yêu cầu được quy định riêng biệt. Trong khi đó, pháp luật không hề có quy định cụ thể rằng người lao động nào vừa thực hiện khám sức khỏe tuyển dụng sẽ được miễn tham gia khám sức khỏe định kỳ hằng năm tại doanh nghiệp trong năm đó. Do đó, không có căn cứ pháp lý để người lao động miễn khám sức khỏe lại tại kỳ khám sức khỏe định kỳ hằng năm của doanh nghiệp dù giấy khám sức khỏe khi tuyển dụng vẫn còn thời hạn. Tuy nhiên, nếu ngày khám sức khỏe định kỳ hằng năm xảy ra trước ngày người lao động vào làm việc chính thức thì người lao động sẽ không phải khám sức khỏe định kỳ lại năm đó.
4. Xử lý trường hợp NLĐ không đồng ý thực hiện một số hạng mục khám sức khỏe định kỳ
Doanh nghiệp xử lý như thế nào trường hợp khi tổ chức khám sức khỏe định kỳ mà có những trường hợp người lao động từ chối một số hạng mục kiểm tra như lấy máu, xét nghiệm nước tiểu.... Doanh nghiệp đồng ý với ý kiến của người lao động thì có được không?
3.1. Người lao động có nghĩa vụ phải tham gia khám sức khỏe định kỳ không?
Từ khi bộ luật lao động 2019 có hiệu lực thi hành, nội dung quy định về nghĩa vụ tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động của người sử dụng lao động đã không còn được quy định nữa. Tuy nhiên, điều này không loại trừ nghĩa vụ tổ chức khám sức khỏe định kỳ của người sử dụng lao động, bởi vì nội dung này vẫn được ghi nhận tại Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 (việc Bộ luật lao động 2019 không ghi nhận nữa nhằm giảm bớt sự trùng lắp của các văn bản pháp luật, thống nhất áp dụng trên thực tiễn theo quy định của Luật an toàn vệ sinh lao động). Cụ thể theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật an toàn vệ sinh lao động, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động ít nhất 1 năm 1 lần. Riêng đối với người lao động làm các công việc, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi thì sẽ được khám sức khỏe ít nhất 6 tháng 1 lần.
Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật chỉ quy định người sử dụng lao động có nghĩa vụ tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động chứ không quy định người lao động có nghĩa vụ phải tham gia khám sức khỏe do người sử dụng lao động tổ chức.
Khi tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, người sử dụng lao động cần đảm bảo rằng người lao động được khám theo các nội dung được ghi trong sổ khám sức khỏe định kỳ theo quy định, trong đó có các nội dung như sau (Phụ lục 3 Thông tư 14/2013/TT-BLĐTBXH):
- Thứ nhất: Khám thể lực: Đo chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, mạch, huyết áp, nhịp thở...
- Thứ hai, khám lâm sàng: Nội khoa, mắt, tai, mũi họng, ẳng hàm mặt, da liễu
- Thứ ba, khám cận lâm sàng: Xét nghiệm huyết học/sinh hóa/x.quang và các xét nghiệp khác khi có chỉ định của bác sỹ
Trong trường hợp này, người lao động không từ chối việc tham gia khám sức khỏe mà chỉ từ chối một số hạng mục thì pháp luật chưa quy định cách thức xử lý của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, việc khám sức khỏe định kỳ được xem là quyền lợi của người lao động làm việc cho doanh nghiệp, cho nên việc từ chối thực hiện một số hạng mục kiểm tra sức khỏe coi như người lao động động đã tự từ chối nhận quyền lợi của mình (vấn đề này không là vi phạm pháp luật).
Song cần lưu ý rằng, việc người lao động từ chối khám sức khỏe định kỳ hay từ chối thực hiện kiểm tra sức khỏe một số hạng mục sẽ không loại trừ nghĩa vụ tổ chức khám sức khỏe định kỳ của người sử dụng lao động đối với người lao động làm việc cho mình. Do đó, dù vì lý do gì thì để tránh những rủi ro pháp lý thì doanh nghiệp vẫn cần nghiêm ngặt tuân thủ quy định về tổ chức thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho người lao động theo quy định của Luật an toàn vệ sinh lao động và hướng dẫn của Bộ y tế.
3.2. Xử phạt hành chính hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động
Trường hợp người sử dụng lao động không tổ chức khám sức khỏe cho người lao động theo quy định thì sẽ đối mặt với rủi ro pháp lý là bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 22 Nghị định 12/2022/NĐ-CP. Cụ thể:
- Đối với hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ thì người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng/ 1 người lao động, nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng.
- Đối với hành vi không tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi chuyển sang làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc thì người sử dụng lao động bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với mỗi người lao động nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng.
Căn cứ quy định tại Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP thì mức phạt tiền này áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân, đối với người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt tiền tương ứng với hành vi nêu trên sẽ gấp đôi, tức tối đa sẽ là 150 triệu đồng.
Tóm lại, trong tình huống người lao động từ chối khám sức khỏe hoặc từ chối thực hiện kiểm tra một số hạng mục thì người sử dụng lao động vẫn phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Và để tránh rủi ro phát sinh về sau cho doanh nghiệp, khi tổ chức khám sức khỏe định kỳ, người sử dụng lao động nên lập một danh sách người lao dộng và có ghi nhận bằng chữ ký của người lao động về đồng ý tham gia/ không tham gia hoặc khám/không khám những hạng mục nào để có cơ sở giải trình sau này.
Tuy nhiên, thực tế sẽ có những công việc đòi hỏi người lao động tham gia làm việc bắt buộc phải khám sức khỏe nhất định đối với hạng mục cụ thể. Nếu trong trường hợp này mà người lao động từ chối khám thì hành vi của người lao động được coi là không chấp hành yêu cầu của cấp trên và có thể làm căn cứ để người sử dụng lao động xử lý kỷ luật lao động theo nội quy lao động của doanh nghiệp.
Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nghĩa vụ tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động của người sử dụng lao động theo quy định pháp luật hiện hành. Bạn đọc có vướng mắc pháp lý nào khác vui lòng liên hệ hotline 1900.6162 để được trao đổi trực tiếp với luật sư. Rất mong nhận được sự hợp tác!
Luật Minh Khuê (Tổng hợp và phân tích)