1. Đặc điểm của giai đoạn chuẩn bị phạm tội

Thứ nhất: Người thực hiện hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội mối thực hiện các hành vi chuẩn bị nhằm tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm.

Đây là đặc điểm đặc trưng của giai đoạn chuẩn bị phạm tội để phân biệt hành vi chuẩn bị phạm tội với hành vi thực hiện tội phạm trong các giai đoạn phạm tội chưa đạt và giai đoạn tội phạm hoàn thành.

Trong thực tế, ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, hành vi chuẩn bị phạm tội được thể hiện dưới các dạng sau:

+ Hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội.

Đây là dạng hành vi phổ biến, đặc trưng bởi vì ở hầu hết các tội phạm thực hiện do cố ý, người phạm tội đều có sự chuẩn bị về công cụ, phương tiện phạm tội. Những công cụ, phương tiện này sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện tội phạm dễ dàng hơn. Việc tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện có thể bằng nhiều cách khác nhau như mua, mượn, chế tạo hoặc trộm cắp công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm.

Trong thực tế, các công cụ, phương tiện mà các đối tượng sử dụng vào việc thực hiện tội phạm rất đa dạng, phong phú tùy thuộc vào hành vi chuẩn bị phạm tội gì.

+ Hành vi chuẩn bị kế hoạch phạm tội:

Hành vi này thể hiện dưới các dạng như thu thập thông tin, tìm kiếm hoặc thăm dò địa điểm phạm tội, lập kế hoạch về thời gian, địa điểm, hợp lý hóa về mặt thời gian phạm tội, nghiên cứu về đối tượng, địa bàn sẽ thực hiện tội phạm, tiếp xúc, làm quen với người bị hại để gây lòng tin, tạo uy tín giả, tập hợp lực lượng, rủ thêm đồng bọn, phân công trách nhiệm cho từngtên trong nhóm, tổ chức, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và cách ứng phó với các tình huống đó...

+ Hành vi loại trừ những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm.

+ Chờ thồi cơ hoặc tạo thời cơ để thực hiện tội phạm:

Dạng hành vi này thường gặp trong những trường hợp người phạm tội đã chuẩn bị xong về công cụ, phương tiện phạm tội nhưng chưa gặp thời cơ thuận lợi để thực hiện tội phạm mà phải chò đến khi có thời cơ.

+ Hành vi thành lập nhóm, hoặc tham gia nhóm tội phạm: Đây là dạng hành vi chuẩn bị phổ biến trong các vụ phạm tội có tính chất đồng phạm hoặc có tổ chức, tuy nhiên nếu hành vi tham gia thành lập nhóm, hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a Khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a Khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này thì những hành vi này sẽ cấu thành các tội phạm này theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 mà không phải là những hành vi chuẩn bị phạm tội thông thường nữa.

Thứ hai: Hành vi chuẩn bị phạm tội chưa trực tiếp xâm hại đêh khách thể được Luật hình sự bảo vệ mà mới chỉ đặt khách thể đó vào tình trạng bị đe dọa xâm hại.

Do chưa thực hiện hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm cụ thể nên hành vi chuẩn bị phạm tội chưa xâm hại đến các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, chưa làm biến đổi tình trạng ban đầu đối tượng tác động của tội phạm. Vìvậy, chưa xâm hại đến khách thể được Luật hình sự bảo vệ mà mới chỉ hướng hành vi vào một khách thế nhất định và đặt khách thể đó vào tình trạng bị đe dọa xâm hại.

Thứ ba: Hậu quả của tội phạm chưa xảy ra.

Hậu quả tác hại của tội phạm chỉ xảy ra khi khách thể bị xâm hại. Hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ là hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm chứ không phải là hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm cho nên ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, hậu quả của tội phạm chưa xảy ra.

 

2. Trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội

Tại Khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Và Khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại các điều 123, 134, 168 và 169 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Mặc dù trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, người phạm tội chưa bắt đầu thực hiện hành vi khách quan của tội phạm nhưng hành vi chuẩn bị phạm tội là những tiền đề ban đầu, tạo ra những khả năng thuậnlợi cho việc thực hiện tội phạm sau này. Hành vi chuẩn bị phạm tội tuy chưa gây ra hậu quả tác hại cho xã hội nhưng nó đã hướng và nhằm vào một quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ đồng thời đặt quan hệ xã hội đó vào tình trạng bị đe dọa xâm hại. Vì vậy, có thể thấy hành vi chuẩn bị phạm tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội. Song không phải tất cả các hành vi chuẩn bị phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự mà trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với người chuẩn bị phạm một tội cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự và tội phạm đó là rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Người chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng không phải chịu trách nhiệm hình sự vì tính chất, mức độ nguy hiểm của hai loại tội phạm này thấp hơn tính chất, mức độ nguy hiểm của tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng.

Chú ý: Nếu trong quá trình chuẩn bị phạm tội, hành vi chuẩn bị đã có đủ yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập khác được quy định trong Bộ luật Hình sự thì người đó không những bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội định phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội mà còn phải chịu trách nhiệm hình sự cả về tội phạm độc lập đó.

Tham khảo một số bài viết pháp lý khác liên quan về giai đoạn chuẩn bị phạm tội của Luật Minh Khuê: