1. Khái niệm chuẩn bị phạm tội theo quy định của pháp luật ?

- Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội

1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

Theo Điều luật trên, nhà làm luật xây dựng khái niệm chuẩn bị phạm tội theo kiểu mô tả các hành vi. Như hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ ...

Chúng ta có thể chia các các hành vi này thành 3 nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội như sau:
Một, tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội;
Hai, tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm; và
Ba, thành lập, tham gia nhóm tội phạm...
Nhóm hành vi thứ nhất bao gồm những hành vi chuẩn bị xảy ra tương đối, phổ biến hơn cả như hành vi mua, mượn, xin hoặc đặt làm hoặc tự chuẩn mọi thứ để được sử dụng làm công cụ, phương tiện cho hành vi phạm tội của mình
Ví dụ: Người chuẩn bị phạm tội tự hoặc thuê, mượn, mua súng; a xít; tự tạo thiết bị nổ hẹn giờ ...
Nhóm hành vi thứ hai bao gồm tất cả các hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy ra hoặc xảy ra được thuận lợi, dễ dàng hơn mà không thuộc nhóm hành vi thứ nhất như chuẩn bị kế hoạch phạm tội; thăm dò địa điểm phạm tội; thăm dò, làm quen với nạn nhân; loại trừ trước trở ngại khách quan đối với hành vi phạm tội; ...

>> Xem thêm:  Đặc điểm của nhân thân người phạm tội là gì ? Cách phân loại người phạm tội ?

Nhóm hành vi thứ ba là nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội như hành vi thành lập và hành vi tham gia nhóm tội phạm. Đây có thể nói đó là một dạng hành vi cần thiết cho sự hình thành lên nhóm có mục đích thực hiện tội phạm cụ thể.
Khi hình thành nhóm tội phạm như vậy là cơ sở cần thiết hoặc thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm của người chuẩn bị phạm tội. Do vậy, hành vi thành lập cũng như hành vi tham gia nhóm tội phạm nó được xem như một dạng hành vi tạo điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm.
Tuy nhiên, theo khoản này Điều luật có loại trừ hành vi thành lập, hành vi tham gia nhóm tội phạm không phải là hành vi chuẩn bị phạm tội trong các trường hợp thuộc Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 (về thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố) hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 (về thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) này.

Vậy tại sao nhà làm luật lại quy định những trường hợp ngoại lệ như trên?

Đầu tiên về Điều 109 về “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân này được coi là hành vi khách quan của cấu thành tội phạm. Chính vì vậy chỉ cần “thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” là đương nhiên tội phạm đã hoàn thành (cấu thành hình thức). Còn đối với trường hợp quy định tại hai điểm: Điểm a khoản 2 Điều 113 và điểm a khoản 2 Điều 299 BLHS cũng là hành vi khách quan cấu thành tội phạm nhưng là cấu thành tăng nặng.

=> Vì vậy ở ba trường hợp trên không thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội nữa. Tuy nhiên, nếu người phạm tội quy định tại khoản 1 và khoản 3 của Điều 109 và Điều 299 thì vẫn có trường hợp chuẩn bị phạm tội.

Các hành vi chuẩn bị phạm tội đều chưa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm định thực hiện. Tuy nhiên, với tính chất là hành vi tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, hành vi chuẩn bị phạm tội hợp thành thể thống nhất với hành vi thực hiện tội phạm. Sự gây thiệt hại cho khách thể bảo vệ của luật hình sự có thể xảy ra hay không và xảy ra như thế nào phụ thuộc nhất định vào hành vi chuẩn bị. Do vậy, hành vi chuẩn bị cần được coi là một trong các giai đoạn của quá trình thực hiện tội phạm, mặc dù bản thân chưa phải là hành vi thực hiện tội phạm.

2. Các trường hợp người chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sựu theo Bộ luật hình sự hiện hành.

- Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội

2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã liệt kê các tội phạm mà người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, gồm Những tội sau:

Điều 108 (Tội phản bội Tổ quốc);

Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân);

Điều 110 (Tội gián điệp);

Điều 111 (Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ);

Điều 112 (Tội bạo loạn);

Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân);

Điều 114 (Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam);

Điều 114 (phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam);

Điều 5 (Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội);

Điều 116 (Tội phá hoại chính sách đoàn kết;

Điều 117 (Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam);

Điều 118 (Tội phá rối an ninh);

Điều 119 (Tội chống phá trại giam);

Điều 120 (Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân);

Điều 121 (Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân);

Điều 123 (Tội giết người);

Điều 134, (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác);

Điều 168 (Tội cướp tài sản);

Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản);

Điều 207 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả);

Điều 299 (Tội khủng bố);

Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố);

Điều 301 (Tội bắt cóc con tin);

Điều 302 (Tội cướp biển);

Điều 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia);

Điều 324 (Tội rửa tiền).

=> Ở khoản 2 quy định của điều luật không nói rõ người chuẩn bị phạm tội theo khoản này phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên hay từ bao nhiêu tuổi thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do khoản 3 quy định rõ người chuẩn bị phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nên ta có thể hiểu người chuẩn bị phạm tội tại khoản 2 phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

3. Người chuẩn bị phạm tội dưới 16 tuổi có chịu trách nhiêmh hình sự?

Tình huống: Thưa Luật sư Minh Khuê, việc người chuẩn bị phạm tội mà đang 15 tuổi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ạ?

Trả lời:

Chào bạn, Luật sư Minh khuê trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Thứ nhất, không phải tất cả các trường hợp người dưới 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi chuẩn bị phạm tội.

Bộ luật hình sự quy định: Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

Theo đó có khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Vậy Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội thuộc quy định tại Điều 123 (tội giết người), Điều 168 (Tội cướp tài sản) của Bộ luật này thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ hai tội phạm này cực kỳ nguy hiểm đến đời sống xã hội.

4. Người dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội

Tình huống:

Chào Luật sư Minh Khuê, tôi là mẹ của cháu N (hơn 14 tuổi), do tôi và chồng mải mê kiếm tiền mà không quan tâm được con trai tôi. Hôm nay con trai tôi đã bị bắt về đồn với hành vi cướp tài sản của bà B. Tôi được biết cháu bị điều tra và thu giữ được một lượng thuốc mê cháu đã chuẩn bị để làm cho bà B (tài sản là hơn 80.000.000 đồng) uống, cháu cũng khai nhận cháu đã chuẩn bị rất lâu rồi và bây giờ cháu mới bắt đầu thực hiện hành vi của mình thì bị bắt.

vậy Luật sư hãy tư vấn giúp tôi bây giờ con tôi chưa phạm tội hoàn thành mà chỉ đang chuẩn bị phạm tội, con tôi có bị xử lý hình sự không ạ/

Tôi cảm ơn!

Chaò bạn, chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Thứ nhất, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2.6 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

Con chị đã hơn 14 tuổi và theo như lời chị kể con chị đang chuẩn bị cướp tài sản của bà B với số tài sản là hơn 80 triệu đồng Vn. Vậy con theo điều luật trên con chị đã có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do mình gây ra.

Thứ hai, về vấn đề chuẩn bị phạm tội được pháp luật quy định như sau:

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội

1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

...

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Vậy cháu N có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 169 Bộ luật này quy định. Cụ thể Điều 169 quy định về tội cướp tài sản được quy định:

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Cháu N đã có hành vi khác như làm thuốc mê (chuẩn bị từ rất) để làm cho người bị tấn công là bà B sẽ lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản của bà B. Nếu sau khi cơ quan điều tra điều tra cháu N nhà chị có đủ cấu thành tội này thì cháu N nhà chị sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Trân trọng!

5. Người chuẩn bị phạm tội giết người của Bộ luật Hình sự hiện hành

Kính thưa Luật sư: Người chuẩn bị phạm tội giết người có phải chịụ trách nhiệm hình sự không ạ?

Cơ sở pháp lý: Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội

1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều luật trên một người chuẩn bị phạm tội (là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm) mà có cơ sở định phạm tội giết người thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Và theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định như sau:

"Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Tình huống phạm tội là gì ? Vai trò của tình huống trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Chuẩn bị phạm tội được quy định như thế nào theo Pháp luật hình sự?

Trả lời:

 Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này (khoản 1 Điều 14 Bộ luật Hình sự)

Câu hỏi: Người dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội nào thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Trả lời:

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật hì sự thì phải chịu trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 14 Bộ luật hình sự). 

Câu hỏi: Những tội phạm nào khi chuẩn bị phạm tội thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự?

Trả lời:

 Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật hình sự thì phải chịu trách nhiệm hình sự (khoản 2 Bộ luật hình sự).