Thưa Luật sư, hiện tại tôi có một số vướng mắc mong Luật sư hỗ trợ và giải đáp thắc mắc giúp tôi ạ. Sự việc cụ thể như sau: Gia đình anh A và gia đình anh B là hàng xóm ngay sát bên cạnh nhau. Ở phía sau nhà gia đình anh A có một khoảng đất trống (là đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà anh A) do anh A chưa sử dụng phần đất đấy và mục đích gì nên anh B thường xuyên đem các phần rác thải sinh hoạt của gia đình mình vứt sang phần đất trống của gia đình anh A. Do là rác thải sinh hoạt nên khi những ngày mưa mùi rác thải bốc lên rất khó chịu. Anh A đã nhắc nhở anh B rất nhiều nhưng anh B vẫn không thay đổi.

Sau rất nhiều lần nhắc nhở những anh B vẫn tiếp tục hành vi anh A đã sang tận nhà anh B và 2 bên có nảy sinh những cãi vả, thậm chí anh B còn cầm gậy đuổi và đánh anh A. Anh A rất bực tức nên trong lúc đi ngang qua phần giếng nước của nhà anh B thấy giếng nước của nhà anh B không có vật che anh B đã nảy sinh ra ý định bỏ thuốc sâu vào phần giếng nước cho bõ tức. Nghĩ vậy nên khi về đến nhà anh A ngay lập tức lấy xe đi mua 5 chai thuốc sâu tại chợ nhưng trên đường về thì bị anh B phát hiện.

Vậy trong trường hợp như trên hành vi của anh A có phải là chuẩn bị phạm tội không và liệu anh A có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

Mong luật sư giải đáp giúp tôi với ạ. Tôi xin chân thành cảm ơn ạ!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

1. Chuẩn bị phạm tội được hiểu như thế nào?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội, cụ thể như sau:

“Điều 14. Chuẩn bị phạm tội

1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân) , điểm a khoản 2 Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 (Tội khủng bố) của Bộ luật này."

Dựa trên định nghĩa nêu trên ta có thể hiểu chuẩn bị phạm tội là quá trình người thực hiện hành vi tìm kiếm, chuẩn bị, sửa soạn các công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để có thể thực hiện tội phạm.

Chuẩn bị phạm tội được xem là một bước trong các giai đoạn thực hiện tội phạm. Do mới chỉ xuất hiện ý định phạm tội không được coi là tội phạm nên giai đoạn này được xem là giai đoạn đầu trong quá trình phạm tội. Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn người phạm tội có các hành vi, hành động để nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết để phục vụ cho quá trình thực hiện tội phạm nhưng lại chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó. Thời điểm bắt đầu của hành vi chuẩn bị phạm tội là thời điểm người phạm tội bắt đầu có các hành vi thể hiện ra bên ngoài những hành động tạo điều kiện cần thiết để nhằm thực hiện tội phạm. Còn thời điểm chấm dứt của giai đoạn chuẩn bị phạm tội là thời điểm ngay trước khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình.

Như vậy trong trường hợp nêu trên hành vi của anh A đã thực hiện các hành vi để tạo điều kiện cho việc đầu độc vào giếng nước của nhà anh B nên trong trường hợp này anh A đang trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội theo quy định của pháp luật Hình sự.

 

2. Đặc điểm của giai đoạn chuẩn bị phạm tội

Giai đoạn này thường có những đặc điểm, như sau:

- Người phạm tội chưa bắt tay vào thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ tạo các tiền đề, điều kiện cần thiết để thực hiện hành vi đó.

- Hành vi chưa trực tiếp xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật Hình sự bảo vệ mà trường hợp này mới chỉ đặt khách thể đấy trong tình trạng nguy hiểm.

- Hậu quả của tội phạm chưa xảy ra do chưa thực hiện hành vi phạm tội nên chưa gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.

 

3. Chuẩn bị phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi nào?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về các trường hợp chuẩn bị phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:

"Điều 14. Chuẩn bị phạm tội 2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự."

Vậy người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội đối với những tội sau sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (quy định tại Chương XIII Bộ luật hình sự); Tội giết người (Điều 123); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169); Tội làm, tàng trữ, vẫn chuyển, lưu hành tiền giả (Điều 207); Tội khủng bố (Điều 299); Tội tài trợ khủng bố (Điều 300); Tội bắt cóc con tin (Điều 301); Tội cướp biển (Điều 302); Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303) và Tội rửa tiền (Điều 324).

Vậy trường hợp này hành vi của anh A có mục đích nhằm tước đoạt mạng sống của anh B mặc dù hành vi này chưa được thực hiện nhưng anh A đã chuẩn bị các phương tiện, dụng cụ để chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội của mình. Trường hợp này anh A đang thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội giết người. Vậy căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

 

4. Quyết định hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội

Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, cụ thể như sau:

"Điều 57. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.

3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định".

 

5. Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội có bị phạt tù?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội đối với các tội được quy định tại Điều 123 (Tội giết người), Điều 168 (Tội cướp tài sản) thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà mình gây ra.

Ví dụ: A năm nay vừa đủ 15 tuổi thường xuyên trốn học và đi chơi cùng với một nhóm người hơn tuổi mình. Vì thường xuyên đi cùng nhóm bạn này nên A dần dần trở nên không nghe lời bố mẹ, ăn chơi và đua đòi cùng nhóm bạn. Có một lần A muốn mua một chiếc điện thoại mới nhưng khi xin bố mẹ thì bố mẹ không những không cho mà còn mắng chửi A. Do bực tức vì bố mẹ không mua điện thoại cho mình và ganh tị với các bạn trong nhóm đã có điện thoại nên A đã nảy sinh ý định sẽ cướp điện thoại của một bạn nữ cùng lớp. Từ khi nảy sinh ý định A thường xuyên đi theo bạn nữ này và được biết bạn ấy thường xuyên đi về một mình qua đoạn đường vắng, thế là A bắt đầu chuẩn bị kế hoạch cướp điện thoại của mình. Về nhà A đã lấy một con dao gọt hoa quả ở bếp cho vào cặp, cùng với đó A đã chuẩn bị sẵn một chiếc mặt nạ để cho bạn nữ kia không nhận ra mình và chuẩn bị đi thực hiện hành vi. Nhưng vừa ra khỏi nhà thì A bị bố phát hiện và bắt lại.

Vậy trong trường hợp này A đã thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017. Ở đây A đã bắt đầu theo dõi để biết được nạn nhân có thói quen như thế nào tạo điều kiện thực hiện hành vi dễ dàng hơm, ngoài ra A cũng chuẩn bị giao để nhằm mục đích đe dọa bạn nữ kia giao tài sản cho mình cũng như là các phương tiện để che dấu thân phận của mình để tránh người khác biết được.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.