- Khẳng định sai. Bởi vì:
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 14 Bộ luật hình sự năm 2015: Người chuẩn bị phạm một trong các tội sau đây thì phải chịu trách nhiệm hình sự: Điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này.
Như vậy theo quy định trên đối với một số tội phạm, mặc dù thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Để trả lời cho câu hỏi trên chúng ta cùng đi vào phân tích một số nội dung sau:
Trước tiên, cần hiểu: Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính gây nguy hại lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt được quy định đối với tội này là từ trên 3 năm tù đến 7 năm tù.
1. Tội phạm và người chuẩn bị phạm tội được quy định như thế nào?
- Thứ nhất theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định về tội phạm như sau:
+ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Như vậy có thể hiểu tội phạm là các hành vi nguy hiểm cho xã hội và phải được quy định trong Bộ luật Hình sự là tội phạm, chủ thể đáp ứng đủ các dấu hiệu và điều kiện thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà mình gây ra.
+ Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. Như vậy theo quy định này những hành vi có dấu hiệu của tội phạm nhưng chưa đáp ứng được mức độ nghiêm trọng đối với các đôi tượng xã hội mà hành vi đó gây ra thì được xem không là tội phạm không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng tùy thuộc vào mức độ mà sẽ phải chịu các chế tài hay các biện pháp xử lý vi phạm khác đối với hành vi vi phạm đó.
- Chuẩn bị phạm tội trước hết phải khẳng định đây là một trong những giai đoạn đầu tiên của hành vi phạm tội. Chuẩn bị phạm tội được quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:
"Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này."
- Như vậy chuẩn bị phạm tội có thể một hoặc toàn bộ quá trình:
+ Tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện: ví dụ như việc để phục vụ cho việc giết người yêu cũ anh A đã đi ra cửa hàng tạp hóa gần nhà để mua con dao rồi về cất giấu chờ để thực hiện hành vi phạm tội.
+ Tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm: ví dụ anh A là nhân viên sửa chữa camera, trong một buổi đi sửa camera tại nhà chị B anh A thấy được chị A để tiền ở tủ rất sơ sài nên đã cố tình đấu nhầm dây camera với mục đích tối sẽ quay trở lại nhà chị B để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
+ Thành lập, tham gia nhóm tội phạm: anh A 18 tuổi trong lúc giải trí trên mạng xã hội đã biết và tham gia vào một nhóm kín với mục đích là đua xe trái phép.
- Việc quy định việc xử lý các hành vi chuẩn vị phạm tội là cần thiết vì các hành vi này đã tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm cố ý (cố ý trực tiếp). Người có ý định phạm tội đã thực hiện các hành vi như chuẩn bị kế hoạch, công cụ, phương tiện, điều kiện khác để phạm tội; tìm người cùng phạm tội như thành lập nhóm tội phạm, tham gia nhóm tội phạm. Việc chưa thực hiện hành vi phạm tội được mô tả trong các tội phạm của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên việc chưa thực hiện được hành vi phạm tội là do nguyên nhân khách quan chứ không phải do ý muốn, ý chí của người phạm tội.
Lưu ý: Phạm tội chưa đạt khác gì so với chuẩn bị phạm tội?
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Chuẩn bị phạm tội được hiểu là trường hợp một người tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện tội phạm.
2. Các trường hợp người chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.
Các trường hợp người chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:
- Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì có quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chuẩn bị phạm tội.
+ Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108);
+ Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109);
+ Tội gián điệp (Điều 110);
+ Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 111);
+ Tội bạo loạn (Điều 112);
+ Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113);
+ Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114);
+ Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 117);
+ Tội phá rối an ninh (Điều 118);
+ Tội chống phá trại giam (Điều 119);
+ Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 120);
+ Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121);
+ Tội giết người (Điều 123);
+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134);
+ Tội cướp tài sản (Điều 168);
+ Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169);
+ Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (Điều 207);
+ Tội khủng bố (Điều 299);
+ Tội tài trợ khủng bố (Điều 300);
+ Tội bắt cóc con tin (Điều 301);
+ Tội cướp biển (Điều 302);
+ Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303);
+ Tội rửa tiền (Điều 324).
- Như vậy để trả lời cho câu hỏi: Người chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện?
Đây là một khẳng định sai, vì hành vi chuẩn bị phạm tội không quy định tội nghiêm trọng là không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định các tội danh của người chuẩn bị phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự căn cứ theo Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2017 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ví dụ tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Nếu trong trường hợp này người chuẩn bị phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà mình gây ra.
- Tuy nhiên cần phải lưu ý về độ tuổi của người chuẩn bị phạm tội đối với các trường hợp được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì độ tuổi sẽ là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Còn các trường hợp còn lại thì độ tuổi được quy định sẽ là từ đủ 16 tuổi trở lên.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng vui lòng liên hệ số Hotline 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!