Một trong những chế định trọng yếu, phản ánh rõ nét tư duy lập pháp tiến bộ này, là "Chuẩn bị phạm tội" được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Chế định này không chỉ có ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn đóng vai trò then chốt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn các hành vi nguy hiểm từ giai đoạn sớm nhất.  

 

1. Chuẩn bị phạm tội là gì? Các dấu hiệu pháp lý 

1.1. Khái niệm chuẩn bị phạm tội

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 14 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), "Chuẩn bị phạm tội" được định nghĩa là hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm. Định nghĩa này cũng mở rộng thêm một nhóm hành vi đặc thù, bao gồm việc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm, trừ một số trường hợp được quy định cụ thể tại các Điều 109, 113 và 299 của Bộ luật.  

Về bản chất, "Chuẩn bị phạm tội" là giai đoạn sớm nhất của quá trình thực hiện một tội phạm do cố ý. Hành vi ở giai đoạn này là những hoạt động tạo ra tiền đề hoặc các điều kiện cần thiết để tội phạm có thể xảy ra, nhưng chưa bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể. Có thể phân loại các hành vi chuẩn bị thành ba nhóm chính:  

  • Nhóm thứ nhất: Tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm. Công cụ và phương tiện phạm tội là các đối tượng vật chất được người phạm tội sử dụng để trợ giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội.  
  • Nhóm thứ hai: Tạo ra những điều kiện khác. Đây là những hành vi mang tính thăm dò, lên kế hoạch, loại trừ trở ngại hoặc các hoạt động khác không phải là công cụ, phương tiện nhưng vẫn thiết yếu cho việc thực hiện tội phạm.  
  • Nhóm thứ ba: Thành lập, tham gia nhóm tội phạm. Đây là một dạng chuẩn bị đặc thù, tạo ra các điều kiện về mặt tổ chức, nhân sự để thực hiện tội phạm.  

Trong những dạng hành vi chuẩn bị phạm tội này, hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện là dạng tương đối phổ biến. Do vậy, Điều 14 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi định nghĩa chuẩn bị phạm tội, xác định hành vi “tìm kiểm, sửa soạn công cụ, phương tiện” phạm tội là nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội thứ nhất; nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội thứ hai là hành vi “tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm” và nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội thứ ba là “thành lập, tham gia nhóm tội phạm...”. Trong đó, nhóm hành vi thứ nhất bao gồm những hành vi chuẩn bị xảy ra tương đối phổ biến hơn cả như hành vi mua, mượn, xin hoặc đặt làm hoặc tự chuẩn bị các thứ sẽ được sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội (mua, mượn súng; mua, xin a xít; tự tạo thiết bị nổ hẹn giờ V.V.).

Nhóm hành vi thứ hai bao gồm tất cả các hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy ra hoặc xảy ra được thuận lợi, dễ dàng hơn mà không thuộc nhóm hành vi thứ nhất như chuẩn bị kế hoạch phạm tội; thăm dò địa điểm phạm tội; thăm dò, làm quen với nạn nhân; loại trừ trước trở ngại khách quan đối với hành vi phạm tội; V.V..

Nhóm hành vi thứ ba mới được bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi thành lập và hành vi tham gia nhóm tội phạm là hành vi cần thiết cho sự hình thành nhóm có mục đích thực hiện tội phạm cụ thể. Sự hình thành nhóm tội phạm như vậy là cơ sở cần thiết hoặc thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm.

Do vậy, hành vi thành lập cũng như hành vi tham gia nhóm tội phạm được coi là hành vi tạo điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm. Khi quy định nhóm hành vi chuẩn bị phạm tội thứ ba này, điều luật loại trừ hành vi thành lập, hành vi tham gia nhóm tội phạm không phải là hành vi chuẩn bị phạm tội trong các trường hợp thuộc Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tội phạm được quy định tại Điều 109 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là tội phạm không có chuẩn bị phạm tội vì hành vi phạm tội của tội phạm được quy định là hành vi hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và do vậy tội phạm này có cấu thành tội phạm cắt xén. Đối với các tội phạm được quy định tại các điều 113 và 299, hành vi thành lập cũng như hành vi tham gia nhóm tội phạm đã được quy định là một dạng hành vi phạm tội nên không thể là hành vi chuẩn bị phạm tội.

Trong thực tế, hành vi chuẩn bị phạm tội có thể thể hiện ở một số dạng như:

  1. Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội;
  2. Chuẩn bị kế hoạch phạm tội;
  3. Thăm dò địa điểm phạm tội;
  4. Thăm dò, làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại;
  5. Loại trừ trước trở ngại khách quan;

Ví dụ về các dạng của hành vi chuẩn bị phạm tội:

Chuẩn bị kế hoạch phạm tội như: bàn bạc, phân công trách nhiệm cho từng người, kế hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm … Dạng chuẩn bị phạm tội này thường xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng phạm hoặc có tổ chức. Tuy nhiên cũng có trường hợp tội phạm chỉ do một người thực hiện vẫn có sự chuẩn bị kế hoạch phạm tội. Ví dụ: A có ý định đầu độc B, tự A đã vạch ra một kế hoạch như mua thuốc độc ở đâu, bỏ thuốc độc vào nước cho B uống như thế nào, sau khi B trúng độc thì làm thế nào để che giấu được tội phạm …

Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội: Dạng chuẩn bị này chủ yếu đối với các tội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân. Ví dụ: A muốn trộm cắp nhà B, nên A đã nhiều lần đến nhà B thăm dò xem gia đình B thường vắng mặt nhà vào giờ nào, quy luật sinh hoạt của gia đình ra sao để tiến hành trộm cắp.

Chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội: chuẩn bị xe máy để đi cướp giật, chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc nổ để hủy hoại tài sản, chuẩn bị xăng để đốt nhà, chuẩn bị thuốc mê đê làm cho người có tài sản uống nhằm chiếm đoạt tài sản của họ, chuẩn bị giấy tờ giả mạo để lừa đảo …

- Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi, dễ dàng như: ngắt cầu dao điện để đêm đột nhập vào kho trộm tài sản, cho các con đi nghỉ mát để ở nhà giết vợ được dễ dàng …

1.2. Dấu hiệu pháp lý chuẩn bị phạm tội

Một hành vi được xác định là chuẩn bị phạm tội khi thỏa mãn các dấu hiệu sau:

  • Về mặt khách quan: Hành vi chuẩn bị phải được biểu hiện ra thế giới bên ngoài bằng các hoạt động cụ thể. Điều này là cốt lõi để phân biệt hành vi chuẩn bị với ý nghĩ chủ quan của người phạm tội. Những hành động này tuy chưa xâm hại trực tiếp đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, nhưng đã tạo ra tiền đề nguy hiểm cho việc gây thiệt hại trong tương lai.  
  • Về mặt chủ quan: Chế định chuẩn bị phạm tội chỉ tồn tại đối với tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Điều này có nghĩa là người phạm tội có nhận thức rõ ràng về tính chất nguy hiểm của hành vi chuẩn bị và mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng. Khoa học luật hình sự chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi ý định nguy hiểm đã được biểu hiện bằng hành vi cụ thể, khách quan, tuân thủ nguyên tắc cốt lõi là "không hình sự hóa tư tưởng". Một ý nghĩ phạm tội, dù có tính toán kỹ lưỡng đến đâu, cũng không thể bị xử lý hình sự nếu nó không được cụ thể hóa bằng hành vi chuẩn bị. Hành vi "chuẩn bị phạm tội" đóng vai trò là ranh giới pháp lý quan trọng, đánh dấu thời điểm mà ý định đã chuyển hóa thành hành động, đủ cơ sở để nhà nước can thiệp bằng các biện pháp hình sự để ngăn chặn tội phạm.  

1.3. Phân biệt chuẩn bị phạm tội với các giai đoạn tội phạm khác

Pháp luật hình sự Việt Nam phân chia quá trình thực hiện tội phạm do cố ý thành ba giai đoạn cơ bản: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Một số tài liệu còn bổ sung thêm khái niệm "tự ý nửa chừng chấm dứt" như một giai đoạn đặc biệt. Việc phân biệt rạch ròi các giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh và quyết định hình phạt.  

  • Phân biệt với "Ý định phạm tội": Ý định phạm tội là trạng thái tâm lý bên trong, là suy nghĩ, toan tính của một người về việc thực hiện một tội phạm, chưa bộc lộ ra bên ngoài. Chuẩn bị phạm tội là khi ý định đó đã được cụ thể hóa bằng hành vi khách quan, chẳng hạn như mua dao, mua xăng, hoặc lên kế hoạch chi tiết. Ranh giới giữa hai khái niệm này là sự biểu hiện của hành vi ra thế giới bên ngoài.  
  • Phân biệt với "Phạm tội chưa đạt": Đây là điểm phân biệt phức tạp nhất. "Chuẩn bị phạm tội" là hành vi tạo điều kiện, chưa bước vào thực hiện hành vi khách quan của cấu thành tội phạm. Ngược lại, "Phạm tội chưa đạt" là giai đoạn người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan nhưng không thể thực hiện đến cùng do những nguyên nhân nằm ngoài ý muốn của họ. Ví dụ, B và C mua xăng chuẩn bị đốt cửa hàng của H nhưng bị cảnh sát giao thông giữ lại, đây là hành vi chuẩn bị phạm tội. Nếu B và C đã tưới xăng và châm lửa nhưng trời mưa lớn dập tắt lửa, hành vi này được xác định là phạm tội chưa đạt, vì họ đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan (đốt) nhưng không thành công do yếu tố khách quan (trời mưa).  
  • Phân biệt với "Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội": Chế định này đặc biệt ở chỗ việc dừng lại không phải do nguyên nhân khách quan, mà hoàn toàn xuất phát từ ý chí chủ quan, tự nguyện của người phạm tội. Điều này thể hiện sự "hướng thiện" và cho phép người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Ví dụ, B đã chuẩn bị dao để giết người nhưng đến nhà nạn nhân thì suy nghĩ lại và bỏ đi, đây là trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt. Sự khác biệt này nằm ở động cơ dừng lại: nếu là do yếu tố khách quan (không mở được cửa, có người khác đến) thì là phạm tội chưa đạt; nếu là do ý chí chủ quan (hối hận, sợ hãi) thì là tự ý nửa chừng chấm dứt.  

Để có cái nhìn tổng quan, bảng sau đây sẽ làm rõ sự khác biệt giữa các giai đoạn của quá trình thực hiện tội phạm:

Tiêu chí Ý định phạm tội Chuẩn bị phạm tội Phạm tội chưa đạt Tự ý nửa chừng chấm dứt
Biểu hiện bên ngoài Chưa có hành vi cụ thể, chỉ là suy nghĩ trong tư tưởng Hành vi tạo điều kiện, chưa bắt đầu thực hiện hành vi khách quan của tội phạm Đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa hoàn thành Hành vi dừng lại một cách tự nguyện, mặc dù có thể tiếp tục
Tính có lỗi Không bị truy cứu hình sự Phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh cụ thể Phải chịu trách nhiệm hình sự Được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm
Nguyên nhân không thực hiện đến cùng Chưa được cụ thể hóa thành hành vi Bị phát hiện, ngăn chặn bởi các nguyên nhân khách quan Do nguyên nhân khách quan (ngoài ý muốn) Do ý chí chủ quan, tự nguyện của người phạm tội
Cơ sở pháp lý Không có quy định Điều 14 BLHS 2015 Điều 15 BLHS 2015 Điều 16 BLHS 2015

 

2. Quy định về chuẩn bị phạm tội trong Bộ Luật Hình sự

Chuẩn bị phạm tội được quy định tại Điều 14 BLHS năm 2015, đã được sửa đổi tại Khoản 4, Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

“Điều 14. Chuẩn bị phạm tội

1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.”.

Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 không có thay đổi nào liên quan đến Điều 14 này.

Bộ luật hình sự năm 2015 đã chuyển sang một phương pháp tiếp cận cụ thể và minh bạch hơn: Liệt kê danh mục các tội danh mà hành vi chuẩn bị sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo đó, người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội phạm mà họ định thực hiện nằm trong danh sách được quy định tại Khoản 2, Điều 14. Sự thay đổi này nhằm hạn chế sự tùy tiện, tăng tính chắc chắn và dự đoán được của pháp luật, thể hiện rõ định hướng nhân đạo trong chính sách hình sự.  

2.1. Danh mục các tội danh bị truy tố khi chuẩn bị phạm tội

Danh mục cụ thể các tội danh đóng vai trò quan trọng, làm cơ sở pháp lý vững chắc cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo Điều 14 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 25 tội sau:

  1. Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108);
  2. Tội gián điệp (Điều 110 );
  3. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 111);
  4. Tội bạo loạn (Điều 112);
  5. Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113);
  6. Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114);
  7. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 117);
  8. Tội phá rối an ninh (Điều 118);
  9. Tội chống phá trại giam (Điều 119 );
  10. Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 120);
  11. Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121);
  12. Tội giết người (Điều 123);
  13. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134);
  14. Tội cướp tài sản ( Điều 168) ;
  15. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169);
  16. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (Điều 207);
  17. Tội khủng bố(Điều 299);
  18. Tội tài trợ khủng bố (Điều 300);
  19. Tội bắt cóc con tin (Điều 301);
  20. Tội cướp biển (Điều 302);
  21. Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303);
  22. Tội rửa tiền (Điều 324 ).

2.2. Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên

BLHS 2015 thể hiện một chính sách hình sự đặc biệt nhân đạo đối với người chưa thành niên. Cụ thể, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị đối với 2 tội danh cụ thể là Tội giết người (Điều 123) và Tội cướp tài sản (Điều 168). Điều này khác biệt hoàn toàn với quy định chung của BLHS 2015 đối với người đủ 16 tuổi trở lên và phù hợp với nguyên tắc bảo vệ quyền trẻ em.  

2.3. So sánh với quy định trong các BLHS trước đây

  • BLHS 1985: Quy định về chuẩn bị phạm tội còn khá sơ khai. Theo Điều 15 BLHS 1985, người chuẩn bị phạm một "tội nghiêm trọng" phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này mang tính chung chung, không liệt kê cụ thể các tội danh. Việc xác định mức độ "nghiêm trọng" của tội phạm định thực hiện là một thách thức, dễ dẫn đến sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật.  
  • BLHS 1999: Quy định đã có sự tiến bộ hơn, mở rộng phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị "tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng". Tuy nhiên, tương tự như BLHS 1985, quy định này vẫn dựa trên một tiêu chí mang tính trừu tượng (mức độ nghiêm trọng của tội phạm định thực hiện), không liệt kê cụ thể các tội danh. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng trong việc đánh giá và định tội, đặc biệt là khi hành vi chuẩn bị chưa gây ra hậu quả nào trên thực tế.  

Dưới đây là bảng so sánh quy định về chuẩn bị phạm tội qua các Bộ luật hình sự Việt Nam:

Tiêu chí BLHS 1985 BLHS 1999 BLHS 2015 (sửa đổi năm 2017 và năm 2025)
Cơ sở truy cứu TNHS Chuẩn bị phạm "tội nghiêm trọng" Chuẩn bị phạm "tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng" Chuẩn bị phạm một trong 25 tội danh được liệt kê cụ thể tại Khoản 2, Điều 14
Tính chất quy định Chung chung, thiếu cụ thể Chung chung, dựa vào mức độ nghiêm trọng Cụ thể, liệt kê rõ ràng
Ưu điểm Đơn giản trong quy định Có sự phân hóa, nhưng còn mơ hồ Tăng tính minh bạch, hạn chế tùy tiện, phù hợp với xu hướng nhân đạo
Hạn chế Khó khăn trong áp dụng, dễ dẫn đến sự tùy tiện Vẫn phụ thuộc vào đánh giá chủ quan về mức độ nghiêm trọng Danh mục có thể quá hẹp, không bao quát hết các tội phạm nguy hiểm mới phát sinh

 

3. Thực tiễn áp dụng, vướng mắc và giải pháp định hướng

3.1. Phức tạp trong định tội danh và nguyên tắc xử lý

Một trong những tình huống phức tạp nhất trong thực tiễn áp dụng là khi một hành vi chuẩn bị phạm tội lại đồng thời cấu thành một tội độc lập khác. Ví dụ điển hình là việc một người lấy trộm súng quân dụng để chuẩn bị thực hiện tội giết người. Trong trường hợp này, hành vi "lấy trộm súng" đã tự thân nó cấu thành một tội phạm hoàn thành (Tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng, Điều 304 BLHS 2015). Đồng thời, hành vi này cũng là một phần của quá trình chuẩn bị cho tội "giết người". Vấn đề đặt ra là phải xử lý như thế nào?  

Theo nguyên tắc định tội danh và tổng hợp tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam, người thực hiện hành vi này sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về cả hai tội danh: (1) Tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng (tội hoàn thành) và (2) Tội chuẩn bị phạm tội giết người. Nguyên tắc này đảm bảo rằng mọi hành vi nguy hiểm đều bị trừng trị một cách đầy đủ và chính xác. Việc tàng trữ vũ khí quân dụng không chỉ là tiền đề cho một tội phạm khác mà bản thân nó đã gây ra một mối đe dọa đáng kể đối với an toàn xã hội. Nếu chỉ xử lý tội danh độc lập, sẽ không phản ánh đúng ý định phạm tội nghiêm trọng hơn. Ngược lại, nếu chỉ xử lý tội danh chuẩn bị, sẽ bỏ sót hành vi nguy hiểm đã hoàn thành. Do đó, việc áp dụng nguyên tắc tổng hợp tội phạm là giải pháp hợp lý nhất để phản ánh đúng bản chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.  

3.2. Thách thức trong điều tra và chứng minh

Việc chứng minh hành vi chuẩn bị phạm tội đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc xác định ý chí chủ quan và mục đích phạm tội. Khác với tội phạm hoàn thành, hành vi chuẩn bị chưa gây ra hậu quả trên thực tế, do đó việc suy đoán ý định phạm tội phải dựa trên các chứng cứ khách quan một cách cẩn trọng.  

Khoảng trống giữa hành vi đã biểu hiện và ý định chưa được thực hiện là vấn đề then chốt. Việc mua một con dao có thể chỉ để nấu ăn, nhưng cũng có thể là để giết người. Việc mua xăng có thể là để đổ xe, nhưng cũng có thể là để đốt nhà. Các cơ quan tố tụng phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc suy đoán vô tội, chỉ kết tội khi có đủ bằng chứng vững chắc, không chỉ dựa vào suy luận chủ quan. Việc này đòi hỏi kỹ năng điều tra chuyên sâu, thu thập và phân tích các chứng cứ vật chất (công cụ, phương tiện) và chứng cứ tố tụng (lời khai, kết quả điều tra) để làm rõ bối cảnh và mục đích của hành vi chuẩn bị.  

3.3. Áp dụng với tội phạm có yếu tố đồng phạm

Hành vi thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm được pháp luật hình sự Việt Nam xác định là một dạng đặc thù của chuẩn bị phạm tội. Đây là hành vi tạo ra điều kiện về mặt tổ chức, nhân sự cho việc thực hiện tội phạm.  

Trong các vụ án đồng phạm có tổ chức, trách nhiệm hình sự của những người tham gia có thể được truy cứu ngay từ giai đoạn chuẩn bị. Cụ thể, nếu tội phạm chung bị dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị, tất cả những người đồng phạm (người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều này cho thấy sự nghiêm khắc của pháp luật đối với các hành vi chuẩn bị có tính chất cấu kết chặt chẽ, nhằm ngăn chặn các tổ chức tội phạm từ khi chúng mới manh nha.  

 

4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và chính sách

4.1. Đánh giá ưu điểm và hạn chế của quy định hiện hành

Quy định tại Điều 14 BLHS 2015 đã khắc phục được những hạn chế của các Bộ luật trước đó, mang lại sự rõ ràng, minh bạch và hạn chế sự tùy tiện trong áp dụng. Việc liệt kê cụ thể các tội danh cần truy cứu trách nhiệm hình sự ngay từ giai đoạn chuẩn bị đã thể hiện sự tiến bộ trong chính sách hình sự, cân bằng giữa tính nhân đạo và hiệu quả phòng ngừa.  

Tuy nhiên, quy định hiện hành cũng bộc lộ một số hạn chế. Danh mục 25 tội danh có thể quá hẹp so với thực tiễn tội phạm ngày càng phức tạp và đa dạng. Việc không xử lý hành vi chuẩn bị đối với một số tội phạm nghiêm trọng có xu hướng gia tăng có thể dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm.  

4.2. Kiến nghị mở rộng và điều chỉnh danh mục tội danh

Cần nghiên cứu mở rộng danh mục tội danh phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội. Thực tiễn cho thấy nhiều hành vi chuẩn bị cho các tội phạm nguy hiểm như Tội hiếp dâm, Tội mua bán người, Tội cướp giật tài sản,... có tính chất nguy hiểm cao nhưng chưa được liệt kê trong Điều 14. Bộ Công an đã đề xuất bổ sung 27 tội danh khác vào danh mục này để tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm.  

Việc mở rộng danh mục này cần được cân nhắc kỹ lưỡng, đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả. Việc bổ sung các tội danh phải dựa trên phân tích thực tiễn, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi chuẩn bị đối với từng loại tội phạm, tránh tình trạng hình sự hóa tràn lan.

4.3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

Để đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác, cần có các giải pháp đồng bộ:

  • Ban hành văn bản hướng dẫn: Tòa án nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao cần ban hành nghị quyết hoặc thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết về việc xác định hành vi chuẩn bị phạm tội, đặc biệt là ranh giới với các giai đoạn khác và nguyên tắc xử lý khi hành vi chuẩn bị đồng thời là một tội độc lập.
  • Nâng cao trình độ chuyên môn: Cần đầu tư vào công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng định tội danh cho đội ngũ cán bộ tư pháp, đặc biệt là trong các vụ án phức tạp.

4.4. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế

Hệ thống pháp luật Việt Nam thuộc nhóm luật thành văn (Civil Law), trong khi nhiều quốc gia như Anh, Mỹ thuộc nhóm luật án lệ (Common Law). Việc tham khảo các chế định tương đương trong Common Law có thể mang lại những gợi mở hữu ích. Trong hệ thống Common Law, các "tội phạm chưa hoàn thành" (inchoate offenses) bao gồm Attempt (tương đương với phạm tội chưa đạt) và Conspiracy (âm mưu/đồng phạm). Điểm khác biệt chính là:  

  • Tiêu chí: Thay vì một danh sách cụ thể, Common Law thường sử dụng các tiêu chí chung như "bước đi đáng kể" (substantial step) để xác định hành vi chuẩn bị.  
  • Âm mưu (Conspiracy): Tội âm mưu được coi là một tội độc lập và có thể truy tố chỉ dựa trên thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người, không nhất thiết phải có hành vi chuẩn bị cụ thể nào. Điều này khác với pháp luật Việt Nam, nơi hành vi "thành lập, tham gia nhóm tội phạm" chỉ là một dạng của chuẩn bị phạm tội.  

Việc tham khảo các mô hình này cho thấy tính linh hoạt của các hệ thống khác trong việc xử lý tội phạm. Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình nào cần phải cân nhắc kỹ lưỡng để phù hợp với bối cảnh chính trị, xã hội và truyền thống pháp lý của Việt Nam.  

Kết luận

Chế định "Chuẩn bị phạm tội" là một phần không thể thiếu của pháp luật hình sự hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) đã mang lại những tiến bộ vượt bậc, chuyển đổi từ một quy định chung chung sang một cách tiếp cận cụ thể, minh bạch, phù hợp với xu hướng nhân đạo của chính sách hình sự.

Mặc dù đã có những bước tiến đáng kể, việc áp dụng chế định này vẫn còn tồn tại những thách thức, đặc biệt là trong việc định tội danh và chứng minh hành vi trên thực tế. Để hoàn thiện hơn nữa, cần có sự điều chỉnh linh hoạt trong danh mục tội danh, ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết và nâng cao trình độ chuyên môn của các cán bộ tư pháp. Quá trình này đòi hỏi một cách tiếp cận cân bằng, vừa đảm bảo tính chắc chắn, minh bạch của pháp luật, vừa duy trì tính linh hoạt và hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm trong bối cảnh mới.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể. Trân trọng./.