Khẳng định sau đúng hay sai, giải thích tại sao: "Trong mọi trường hợp người không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra thì không phải chịu trách nhiệm hình sự?"

- Khẳng định sai. Bởi vì:

Trong một số trường hợp người thực hiện hành vi gây nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng khôngthấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây nên thì vấn đề trách nhiệm hình sự không đặt ra đó được coi là sự kiện bất ngờ.

Tuy nhiên trong trường hợp người thực hiện hành vi tuy không thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trưổc và có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm đó thì trách nhiệm hình sự có thể đặt ra đối với người thực hiện hành vi (lỗi vô ý vì cẩu thả).

 

1. Trách nhiệm hình sự là gì?

1.1 Định nghĩa trách nhiệm hình sự

Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có đầy đủ dấu hiệu của tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây là nguyên tắc có tính quy kết. Thuật ngữ "trách nhiệm" ở đây không dùng để chỉ nghĩa vụ mà công dân phải có với Nhà nước và xã hội mà nó được dùng để chỉ hậu quả pháp lí bất lợi mà một người phải gánh chịu trước Nhà nước và xã hội vì họ đã thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật hình sự bắt buộc phải thực hiện, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Nhà nước bảo vệ những quan hệ xã hội này bằng việc quy định những chế tài (hình phạt, biện pháp tư pháp) trong Bộ luật Hình sự để áp dụng đối với người phạm tội, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích thiết thân của họ đồng thời buộc họ phải chấp hành những chế tài ấy. Hậu quả pháp lý đã nêu chính là Trách nhiệm hình sự.

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm. Là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.

Từ khái niệm Trách nhiệm hình sự, có thể rút ra một số đặc điểm của trách nhiệm hình sự như sau:

- Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện hiện những nghĩa vụ mà pháp luật hình sự bắt buộc phải thực hiện.

- Trách nhiệm hình sự chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải thực hiện.

- Trách nhiệm hình sự được biểu hiện cụ thể ở việc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt - biện pháp tước bỏ hoặc hạn chế ở họ một số quyền hoặc lợi ích hợp pháp.

- Trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu là trách nhiệm đối với Nhà nước chứ không phải đối với người, hay tổ chức mà quyền hoặc lợi ích hợp pháp của họ bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại. 

- Trách nhiệm hình sự phải được phản ánh trong bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án.

 

1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự của người phạm tội

Cơ sở trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 2 của Bộ luật hình sự:

"1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sư."

Để kết luận hành vi đã được thực hiện của người nào đó có phải là tội phạm không và tội đó là tội gì, hình phạt áp dụng đối với họ ra sao, cần phải xác định hành vi đó đã thỏa mãn những dấu hiệu của Cấu thành tội phạm cụ thể chưa? Nếu thỏa mãn tức là người ấy đã thực hiện tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS và người thực hiện hành vi này phải chịu TNHS. Như vậy, CTTP là cơ sở pháp lý của Trách nhiệm hình sự, là điều kiện cần và đủ của trách nhiệm hình sự.

Việc xác định một cách thống nhất CTTP là cơ sở của TNHS là nội dung quan trọng để thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN. Việc tuyên bố người nào đó là phạm tội và buộc họ phải chịu TNHS chỉ có thể dựa trên cơ sở pháp lí là CTTP mà không thể dựa vào cơ sở nào khác. Nếu xác định hành vi của một người không có hoặc có nhưng không đầy đủ những dấu hiệu của bất kì CTTP cụ thể nào được quy định trong BLHS thì hành vi đó không thể bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi này không thể bị buộc phải chịu TNHS.

Quy định tại Điều 2 giúp đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Về mặt khách quan: Một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi là cách cư xử của con người ra thế giới khách quan được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có hành vi phạm tội. Hành vi đó có thể gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội.

Về mặt chủ quan: Cơ sở của trách nhiệm hình sự dựa trên yếu tố "lỗi" của người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Lỗi được dựa trên quan điểm chủ quan của người phạm tội.

Về mặt khách thể: Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội phải xâm hại đến quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Đây là dấu hiệu bắt buộc để xác định có cấu thành tội pham hay không. Ngoài ra có các dấu hiệu không bắt buộc như: đối tượng của tội phạm, người bị hại.

Về mặt chủ thể: chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Người đó phải đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 của Bộ luật hình sự.

 

2. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Ở Việt Nam, căn cứ vào thực tiễn chống tội phạm và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước khác, luật hình sự xác định tuổi 14 là tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi 16 là tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

Theo Điều 12 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm à Bộ luật này có quy định khác. Đây là những tội phạm mà chủ thể của những tội phạm này đòi hỏi phải là người "đủ 18 tuổi trẻ lên" - Xem: Các điều 145, 146, 147, 325, 329 Bộ Luật Hình sự.

Điều 12 xác định: Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Như vật, điều luật giới hạn phạm vi các tội cũng như phạm vi loại tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo đó, ở độ tuổi này, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm được quy định tại 28 điều luật đã được xác định và phải thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong 28 điều luật này có:

- 8 điều thuộc Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người;

- 6 điều thuộc Chương các tội xâm phạm sở hữu;

- 5 tội thuộc Chương các tội phạm về ma túy và 9 tội thuộc Chương các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (2 tội xâm phạm an toàn giao thông; 4 tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và 3 tội xâm phạm trật tự công cộng - Xem: Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

 

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện đã qua những thời hạn sau đây:

"Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."

Như vậy thời hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định, cụ thể như sau:

- 05 năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng (các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến ba năm).

- 10 năm đối với các tội phạm nghiêm trọng (các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ 03 năm đến 07 năm tù).

- 15 năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng (các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ 07 năm đến 15 năm).

- 20 năm đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng (các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình).

Nếu các thời hạn trên đã qua mà các cơ quan bảo vệ pháp vì lí do nào đó không phát hiện được, hoặc phát hiện được nhưng bỏ qua không điều tra, truy tố, xét xử thì người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện.

Các thời hạn nên sẽ kéo dài thêm trong các trường hợp sau đây:

- Nếu trong thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tối mới mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

- Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ (khoản 2 Điều 27 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

 

4. Trường hợp nào không phải chịu trách nhiệm hình sự, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

4.1 Những trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự

Những trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể như sau:

- Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm, trừ trường hợp che giấu tội phạm, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS năm 2015 (khoản 2 Điều 18 BLHS năm 2015).

- Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của BLHS nă 2015 hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Khoản 2 Điều 19 BLHS năm 2015).

- Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định Chương XIII của BLHS năm 2015 hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bảo chữa (Khoản 3 Điều 19 BLHS năm 2015).

- Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 20 BLHS năm 2015).

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bênh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. (Điều 21 BLHS năm 2015).

- Người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên (gọi là phòng vệ chính đáng). Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm nên người phòng vệ chính đáng không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 22 BLHS năm 2015).

- Người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa gọi là tính thế cấp thiết). Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm nên người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Người thực hiện hành vi để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiết hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 24 BLHS năm 2015).

- Người thực hiện hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quý trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. (Điều 25 BLHS nă 2015).

- Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này. (Điều 26 BLHS năm 2015). 

 

4.2 Những trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự

- Người thực hiện hành vi phạm tội nhưng thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết (Điều 27 BLHS năm 2015).

- Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 226 của BLHS năm 2015 nhưng bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết không yêu cầu khởi tố (Khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015).

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS năm 2015).

- Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố (bao gồm bị hại hoặc người đại diện của bị hại là ngưới dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết) rút yêu cầu thuộc các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 226 của BLHS năm 2015 thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức. Điều này có nghĩa người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Khoản 2 Điều 155 của BLTTHS năm 2015).

- Trường hợp đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm (Điểm b khoản 1 Điều 230 BLTTHS năm 2015).

 

5. Trong mọi trường hợp người không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra thì không phải chịu trách nhiệm hình sự?

Có rất nhiều quan điểm cho rằng "Trong mọi trường hợp người không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra thì không phải chịu trách nhiệm hình sự". Vậy quan điểm này là đúng hay sai?

- Đây là một khẳng định sai.

- Căn cứ pháp lý: Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Giải thích: Tại Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về Sự kiện bất ngờ, cụ thể: "Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự".

Có thể thấy, trong điều luật này chính mặt khách quan đã không được thỏa mãn. Cụ thể mặt khách quan bao gồm các yếu tố: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi nguy hiểm đó và mối quan hệ nhân quả giữa chúng,...Trong đó, hành vi nguy hiểm là bắt buộc phải có ở tất cả các loại tội phạm. 

Trong một số trường hợp người thực hiện hành vi gây nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng không thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây nên thì vấn đề trách nhiệm hình sự không đặt ra đó được coi là sự kiện bất ngờ.

Tuy nhiện không phải lúc nào người không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bản thân gây ra cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp người thực hiện hành vi tuy không thấy trước hậu qảu nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm đó thì trách nhiệm hình sự có thể đặt ra đối với người thực hiện hành vi. Cụ thể căn cứ theo khoản 2 Điều 10 BLHS quy định về Vô ý phạm tội, người phạm tội không nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra hậu qảu nghiêm trọng cho xã hội nhưng họ buộc phải thấy trước hậu quả đó: "Ngưới phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó."

Đây là trường hợp phạm tội với lỗi cố ý do cẩu thả. 

Ví dụ: Trong trường hợp y tá cẩu thả phát nhầm thuốc cho bệnh nhân. Lúc này người y tá không thể thấy trước hậu quả do hành vi phát nhầm thuốc của mình gây ra. Tuy nhiên, với chức trách của một y tá, cô ấy phải có năng lực chuyên môn và buộc phải thấy trước hậu quả nghiêm trọng có thể phát sinh đối với người bệnh. Nếu hậu quả xảy ra dẫn đến sức khỏe của người bệnh bị đe dọa hay gây ra cái chết cho người bệnh, người y tá đó phải đối mặt với việc chịu trách nhiệm hình sự với một trong hai tội sau đó là Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129 BLHS năm 2015) hoặc Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 134 BLHS năm 2015).

Chính ví thế không phải trong mọi trường hợp nào người không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội hành vi của mình gây ra thì cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự mà nó còn phải căn cứ xem đây có phải trường hợp thuộc lỗi vô ý vì cẩu thả không.

Trong trường hợp bạn còn bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến vấn đề này hay các vấn đề khác như doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình, dân sự, hình sự, bảo hiểm,...cần giải đáp về mặt pháp lý các bạn đừng ngần ngại nhấc máy lên và gọi tới số tổng đài 1900.6162 để được đội ngũ luật sự và chuyên viên tư vấn pháp lý với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề. Chúng tôi rất hân hạnh được đồng hành cùng quý khách hàng. Trân trọng!