Mục lục bài viết
1. Những trường hợp nào hiện nay sẽ được hưởng án treo?
Dựa vào quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 về án treo, hệ thống pháp luật đã đặt ra những nguyên tắc và quy định cụ thể nhằm tạo ra một cơ chế hình phạt linh hoạt và công bằng đối với những người phạm tội. Theo đó, khi mức hình phạt tù không vượt quá 03 năm, Tòa án có thể quyết định áp dụng án treo, có ý nghĩa là không buộc người phạm tội phải thực hiện hình phạt tù mà thay vào đó áp đặt một thời gian thử thách và các nghĩa vụ phụ trách để tái hòa nhập xã hội.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo sẽ phải tuân thủ các điều lệ được quy định bởi Luật thi hành án hình sự và được giám sát, giáo dục bởi cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi họ cư trú. Gia đình người phạm tội cũng có trách nhiệm hỗ trợ cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong quá trình giám sát và giáo dục người đó.
Nếu người được hưởng án treo thể hiện sự tiến bộ và tuân thủ nghĩa vụ trong thời gian thử thách, Tòa án có thể xem xét rút ngắn thời gian thử thách. Tuy nhiên, nếu người này vi phạm nghĩa vụ quy định hoặc tái phạm tội, Tòa án có thể quyết định chấm dứt án treo và buộc người đó phải thực hiện hình phạt tù theo quy định.
Ngoài ra, Tòa án cũng có thể quyết định áp dụng hình phạt bổ sung nếu có quy định trong luật áp dụng. Điều này nhằm đảm bảo tính chất đặc biệt và linh hoạt của hình phạt, đồng thời cung cấp cơ hội cho người phạm tội để sửa sai và tái hòa nhập vào xã hội một cách tích cực.
2. Phạt tù nhưng được hưởng án treo thì có mất quyền công dân hay không?
Dựa trên quy định của Điều 44 Bộ luật Hình sự 2015, việc tước một số quyền công dân đối với những người bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác là một biện pháp chặt chẽ nhằm bảo vệ an ninh và trật tự xã hội. Theo đó:
Khi công dân Việt Nam bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác theo quy định của Bộ luật Hình sự, Tòa án có thể quyết định tước một hoặc một số quyền công dân. Cụ thể, đối tượng bị kết án sẽ bị tước quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước và quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước, cũng như quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.
Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm, tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, tùy thuộc vào trường hợp người bị kết án có được hưởng án treo hay không. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn trật tự, an ninh trong xã hội và cũng cung cấp cơ hội cho người bị kết án để tự sửa sai và tái hòa nhập vào cộng đồng sau khi thực hiện hình phạt.
Theo quy định của Bộ luật Hình sự, nếu một công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác theo các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có quyền tước một hoặc một số quyền công dân của họ. Tuy nhiên, đối với những trường hợp được hưởng án treo, nguyên tắc này không áp dụng và công dân sẽ không bị tước bất kỳ quyền công dân nào.
Điều này có ý nghĩa là khi Tòa án quyết định áp dụng án treo, công dân được xem xét và được cơ hội tái hòa nhập vào xã hội mà không phải chịu tước một hoặc một số quyền công dân. Những người này được coi là có khả năng hồi phục và sửa sai, và việc không áp đặt tước quyền công dân sẽ tạo điều kiện cho họ để tiếp tục hoạt động và tham gia vào các hoạt động cộng đồng một cách tích cực, giữ vững quyền công dân và làm thành viên có ích cho xã hội.
3. Có được góp vốn thành lập công ty sản xuất nông sản khi đang trong thời gian thử thách hưởng án treo không?
Dựa vào quy định của Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, có những người và tổ chức không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Theo đó:
Theo khoản 2 của Điều 17, nhóm người và tổ chức không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm các đối tượng sau đây:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị của mình;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng.
Ngoài ra, theo khoản 3, tổ chức và cá nhân vẫn có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ một số trường hợp như cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị của mình; và đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng.
Cuối cùng, theo khoản 4, những thu nhập thu được từ hoạt động kinh doanh của cơ quan, đơn vị thuộc nhóm không được thành lập và quản lý doanh nghiệp, được sử dụng để chia cho một số hoặc tất cả những người được quy định tại khoản 2 và 3, bổ sung vào ngân sách hoạt động của cơ quan, đơn vị, hoặc lập quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị.
Do quy định của Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, chỉ những người đang trong tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt tù, hay đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc mới không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp.
Điều này đặt ra một giới hạn quan trọng đối với những người đang trong tình trạng pháp lý khó khăn, giúp ngăn chặn khả năng lạm dụng quyền lực và tài nguyên của doanh nghiệp. Cụ thể, những cá nhân đang gặp phải các biện pháp xử lý pháp lý hoặc đang thực hiện hình phạt tù không thể tận dụng quyền lợi của mình để thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Điều này không chỉ giúp bảo vệ xã hội khỏi nguy cơ của những cá nhân có lịch sử phạm tội mà còn góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch và tuân thủ pháp luật.
Nhìn chung, quy định này là một biện pháp hữu ích để đảm bảo tính chất đạo đức và đúng đắn của doanh nghiệp, đồng thời đóng góp vào sự linh hoạt của hệ thống pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam.
Liên hệ hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật. Xem thêm bài viết sau đây: Mẫu hợp đồng góp vốn mới nhất và Mẫu giấy chứng nhận vốn góp công ty cổ phần