- 1. Bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra ở trường, bệnh viện
- 2. Một số điểm bất cập trong quy định tại Điều 599 Bộ luật dân sự 2015
- 3. Ví dụ về bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi gây ra trong thời gian trường học quản lý
- 4. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra
- 5. Ví dụ về bồi thường thiệt hại do người học nghề, làm công gây ra
1. Bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra ở trường, bệnh viện
Theo Điều 599 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 599. Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý
1. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
3. Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường
Đây là trường hợp thiệt hại do người không có hoặc không đủ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra. Bản thân người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Chủ thể phải bồi thường thiệt hại trong trường họp này được xác định cụ thể như sau:
- Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường cho người bị thiệt hại nếu có lỗi trong việc quản lý người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự;
- Cha, mẹ, người giám hộ của người chưa đủ mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường thiệt hại khi trường học, bênh viện không có lỗi trong việc quản lý.
2. Một số điểm bất cập trong quy định tại Điều 599 Bộ luật dân sự 2015
Thứ nhất, thuật ngữ được sử dụng không thống nhất giữa tiêu đề của Điều luật và khoản 3 với khoản 1. Tiêu đề của Điều luật này và tại khoản 3 của Điều này sử dụng cụm từ “người dưới mười lăm tuổi”, nhưng tại khoản 1 lại sử dụng cụm từ “người chưa đủ mười lăm tuổi”. Việc sử dụng cụm từ “người chưa đủ mười lăm tuổi” như ở khoản 1 là sự thay đổi phù hợp của BLDS năm 2015, nhưng sự sửa đổi này là không đồng bộ. Do đó, để đảm bảo việc sử dụng đồng bộ các thuật ngữ thì nên thay thuật ngữ “người dưới mười lăm tuổi” ở tiêu đề và khoản 3 Điều này thành “người chưa đủ mười lăm tuổi”
Thứ hai, theo quy định tại khoản 3 Điều 599, nếu trường học, bệnh viện không có lỗi trong việc quản lý người chưa đủ mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ phải bồi thường. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 586 Bộ luật dân sự 2015, người giám hộ chỉ phải bồi thường bằng tài sản của mình nếu người gây thiệt hại không có hoặc không đủ tài sản để bồi thường và người giám hộ có lỗi trong việc giám hộ. Rõ ràng, hai quy định cùng điều chỉnh về vấn đề bồi thường thiệt hại do người chưa đủ mười lăm tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự gây ra nhưng lại có sự mâu thuẫn với nhau. Theo đó, để đảm bảo sự thống nhất giữa hai quy định này, khoản 3 Điều này nên được thêm đoạn “theo quy định tại Điều 586 Bộ luật này” vào cuối. Tức là khoản 3 Điều này sẽ có nội dung: “...; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường theo quy định tại Điều 586 Bộ luật này”.
Quy định tại Điều 599 Bộ luật dân sự 2015 có một số sự thay đổi nhỏ so với quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự trước đây như sau:
Thứ nhất, hai từ “tổ chức” được thay thế bằng hai từ “pháp nhân”. Thay đổi này dẫn đến việc xác định chủ thể quản lý người gây thiệt hại trong trường hợp này chỉ có thể là pháp nhân. Tuy nhiên, sự sửa đổi này không hợp lý và không bao quát được tất cả các trường hợp xảy ra trên thực tế. Ví dụ, một hộ gia đình ký hợp đồng dịch vụ trông trẻ với nhiều gia đình khác, trong thời gian trông giữ, các bé đánh nhau gây thiệt hại thì việc bồi thường thiệt hại được xác định theo quy định nào?
Thứ hai, cụm từ “dưới 15 tuổi” được sửa đổi thành “chưa đủ 15 tuổi”. Thay đổi này là hợp lý bởi vì nếu sử dụng cụm từ “người dưới mười lăm tuổi” như Điều 621 BLDS năm trước đây sẽ có thể dẫn đến cách hiểu rằng người dưới 15 tuổi là người từ đủ tuổi trở xuống, và sẽ không bao gồm người đã bước qua 14 tuổi nhưng chưa đủ tuổi (người đã bước qua sinh nhật tròn 14 tuổi sẽ bước vào tuổi 15 nhưng chưa đủ 15 tuổi). Như vậy, sẽ không thể áp dụng quy định nào để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do nhóm đối tượng từ (14 tuổi + 1 ngày) cho đến trước khi sinh nhật tròn 15 tuổi gây ra.
3. Ví dụ về bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi gây ra trong thời gian trường học quản lý
Trường Trung học cơ sở X tổ chức cho các em thiếu nhi lớp 7 đi thăm quan và cắm trại tại Ao Vua. Hùng (12 tuổi) cố tình trêu đùa, đã đẩy Nga – một bạn gái cùng lớp ngã xuống suối , không ngờ đầu Nga đập vào đá dẫn đến trấn thương não. Nga phải đi cấp cứu và nằm điều trị trong bệnh viện nhiều ngày. Bố mẹ Nga đã làm đơn kiện Hùng ra tòa. Bố mẹ Hùng cho rằng nhà trường cũng phải có trách nhiệm.
- Theo Điều 599 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác quản lý, người dưới mười lăm tuổi trong trường hợp học tại trường mà gây thiệt hại thì nhà trường phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
Trong trường hợp trên, Hùng gây thiệt hại trong thời gian thuộc sự quản lý của nhà trường, vì trường tổ chức cho các cháu đi tham quan, vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về trường trung học cơ sở X. Nếu trường học chứng minh được mình không có lỗi trong việc quản lý (ví dụ Hùng đã không chấp hành quy định chung, trốn thầy cô ra suối chơi, rồi gây thiệt hại cho Nga) thì bố mẹ Hùng phải bồi thường.
4. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra
Điều 600 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Cũng giống như quy định về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra tại Điều 597 Bộ luật dân sự 2015, quy định về bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra cũng là một trong những quy định thể hiện rất rõ nguyên tắc bồi thường kịp thời. Không cần quan tâm người làm công, người học nghề có lỗi hay không cỏ lỗi trong việc gây thiệt hại, cá nhân, pháp nhân sử dụng người làm công, người học nghề phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Thực tế, có thể người làm công, người học nghề có lỗi trong việc thực hiện công việc được giao gây ra thiệt hại cho người khác. Tuy nhiên, nếu buộc người làm công, người học nghề phải bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại sẽ không đảm bảo nguyên tắc bồi thường kịp thời. Bởi vì thực tế, khả năng bồi thường của người làm công, người học nghề là rất thấp, trong khi đó cá nhân, pháp nhân sử dụng người làm công, người học nghề là những chủ thể có khả năng bồi thường cho người bị thiệt hại hơn, đặc biệt là đối với pháp nhân. Hơn nữa, người làm công, người học nghề gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc được giao tức là họ đang thực hiện công việc theo yêu cầu, sự chỉ đạo của cá nhân, pháp nhân và công việc đó là một trong những hoạt động đem lại lợi ích cho cá nhân, pháp nhân sử dụng người làm công, người học nghề.
Khi áp dụng quy định này vào thực tế, cần phải phân biệt khái niệm người làm công với người làm dịch vụ. Người làm công là người thực hiện công việc được giao theo sự chỉ đạo, sắp xếp, sự phân công của cá nhân, pháp nhân. Tức là bản thân người làm công không có sự độc lập trong việc tổ chức thực hiện hoạt động của cá nhân, pháp nhân sử dụng người làm công. Người làm dịch vụ là những người thực hiện công việc theo thỏa thuận với cá nhân, pháp nhân và họ là người độc lập trong việc tổ chức thực hiện công việc.
5. Ví dụ về bồi thường thiệt hại do người học nghề, làm công gây ra
P là chủ cửa hiệu sửa chữa xe máy; Q – 16 tuổi là thợ đang học việc. Một lần, sau khi được P giao thay dây ga cho chiếc xe máy của khách, Q thử ga thấy xe nổ tốt. Chợt nhớ phải đi mua bình ác quy mới do người chú họ nhờ, Q tiện thể nổ máy đi luôn, vì biết khách hẹn chiều mới đến lấy xe. Vì vội vàng, phóng nhanh, Q đã tông xe vào K một người đi xe máy khác, làm người này bị thương phải đi cấp cứu bệnh viện; xe máy của họ và xe máy Q đang điều khiển đều bị hư hỏng.
– Ai phải bồi thường thiệt hại cho K?
Q là người gây thiệt hại về tài sản, sức khoẻ cho K. Thiệt hại Q gây ra cho K không phải khi đang thực hiện công việc được giao. Vì vậy, Q phải tự bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và tài sản cho K.
– Ai phải bồi thường thiệt hại chiếc xe máy của khách mà Q làm hư hỏng?
Chiếc xe máy do khách giao cho cửa hàng của P sửa chữa, vì vậy, P có nghĩa vụ trông giữ, bao quản. Việc Q – thợ học việc của P làm hư hỏng xe, P phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Theo Điều 600 Bộ luật dân sự 2015 – Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra “Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”.
Trong trường hợp này, Q cũng có lỗi đã tự ý lấy xe đi (Q mới 16 tuổi nên chưa có bằng lái) và không làm chủ được tốc độ gây thiệt hại cho K, vì vậy, Q phải hoàn trả cho P một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Vì Q 16 tuổi nên nếu Q không có đủ tài sản để bồi thường, P có thể yêu cầu người đại diện của Q (bố mẹ hoặc người giám hộ) bồi thường phần còn thiếu theo Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 "Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình."
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trân trọng./.