1. Quy định của pháp luật

Không phải trong mọi trường hợp khi nguyên đơn chết thì Tòa án đều ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.  Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trường hợp nguyên đơn chết mà chưa tìm thấy người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng, Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Điều này nhằm chờ xác định xem có ai là người thừa kế hợp pháp của nguyên đơn và có nguyện vọng tiếp tục tham gia tố tụng hay không. Trong trường hợp khi đã xác định được người thừa kế của nguyên đơn và người này đồng ý tham gia vào quá trình tố tụng, Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án. Người thừa kế sẽ kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trong vụ án dân sự.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế. Điều này có nghĩa là khi một trong các bên tham gia vụ án dân sự (nguyên đơn hoặc bị đơn) qua đời và các quyền và nghĩa vụ liên quan không thể được chuyển giao cho người thừa kế, thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án đó. Đây là một trong những trường hợp mà Tòa án có thể chấm dứt quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo tính thực thi và hợp lý của quá trình tố tụng dân sự.

 

2. Trường hợp vụ án bị đình chỉ

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án dân sự sẽ bị đình chỉ trong các trường hợp sau:

- Nguyên đơn chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng: Việc tiếp tục vụ án dân sự sẽ gặp khó khăn vì không có ai đại diện cho nguyên đơn trong quá trình tố tụng.

- Bị đơn chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế. Tức là, không có ai đại diện cho bị đơn trong quá trình tố tụng.

- Cả nguyên đơn và bị đơn đều chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế. Đây là một tình huống phức tạp hơn. Trong trường hợp này, không có ai đại diện cho cả hai bên trong quá trình tố tụng.

Đồng thời, theo khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quy định về việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng như sau: Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng. 

Như vậy, từ những quy định nêu trên, không phải trong mọi trường hợp khi nguyên đơn chết thì việc giải quyết vụ án sẽ bị đình chỉ. Cụ thể, khi nguyên đơn chết, vụ án dân sự sẽ được xử lý như sau: Nếu nguyên đơn chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu nguyên đơn chết mà quyền và nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế, người thừa kế sẽ tham gia tố tụng và vụ án vẫn sẽ được tiến hành theo quy định pháp luật.

 

3. Trường hợp vụ án không bị đình chỉ

Vụ án dân sự sẽ không bị đình chỉ trong các trường hợp sau đây:

- Nguyên đơn chết nhưng có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng: Trong trường hợp này, người thừa kế của nguyên đơn sẽ tiếp tục tham gia vụ án với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn. Vụ án sẽ được tiếp tục giải quyết bình thường.

- Bị đơn chết nhưng có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng: Tương tự, nếu bị đơn chết và có người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị đơn, người thừa kế này sẽ tham gia vào vụ án thay cho bị đơn. Quá trình tố tụng sẽ tiếp tục diễn ra mà không bị đình chỉ.

- Nguyên đơn hoặc bị đơn là tổ chức mà tổ chức đó đã giải thể hoặc bị sáp nhập, chia tách: Khi nguyên đơn hoặc bị đơn là một tổ chức đã giải thể hoặc bị sáp nhập, chia tách, quyền và nghĩa vụ tố tụng sẽ được chuyển giao cho tổ chức mới (nếu có) hoặc cho tổ chức kế thừa. Do đó, vụ án sẽ không bị đình chỉ mà tiếp tục được giải quyết bởi các tổ chức kế thừa này.

Những trường hợp này được quy định nhằm đảm bảo quá trình tố tụng được tiếp tục và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng không bị gián đoạn do các thay đổi về mặt nhân sự hoặc tổ chức của các bên trong vụ án.

 

4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án

Theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như sau:

- Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại theo quy định tại khoản 3 Điều 192, trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ có yêu cầu xét xử vắng mặt hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 bao gồm nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

- Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c và các trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này như đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ và tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này, trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này, Tòa án sẽ đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết; Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện đã thụ lý thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp sẽ được trả lại cho họ.

- Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? Căn cứ đình chỉ vụ án dân sự. Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu trực tiếp tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!