1. Chứng cứ trong vụ án dân sự
Về nguyên tắc, việc giải quyết vụ án dân sự của Tòa án phải dựa vào chứng cử được đưa đến Tòa án. Hiểu theo nghĩa chung nhất, chứng cứ là những gì có thật mà căn cứ vào đó để Tòa án giải quyết vụ án dân sự. Hiểu cụ thể hơn thì chứng cứ phải là những gì có tính khách quan, liên quan và hợp pháp. Chứng cứ có thể đưa đến Tòa án từ nhiều người khác nhau, bởi nhiều chủ thể khác nhau. Ngoài đương sự cung cấp chứng cứ, trong suốt quá trình tố tụng dân sự, các chủ thể khác như người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, thậm chỉ là Tòa án cũng có thể đưa ra chứng cứ để giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, đương sự vẫn là chủ thể quan trọng nhất của việc cung cấp chứng cứ.
Thực chất, chứng cứ là những thông tin, tình tiết, sự kiện của vụ án dân sự, đã được làm sáng tỏ, được Toà án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án dân sự. Do đó, để các chủ thể chứng minh có thể nhận ra được thì chúng phải được ghi lại, phản ánh lại dưới những hình thức cụ thể như bản hợp đồng, bản di chúc, băng ghi âm, ghi hình vv..
Chúng cử được sử dụng để giải quyết vụ án dân sự, vì thế chúng cứ có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Chứng cứ phải được đương sự cung cấp cho Tòa án. Việc cung cấp chứng cứ của đương sự là một nguyên tắc của tổ tụng dân sự bởi trong vụ án dân sự, quyền và lợi ích là của đương sự, đương sự là người hiểu rõ nhất về quyền, lợi ích đó. Khi đương sự có yêu cầu đến Tòa án, đương sự phải cung cấp chứng cứ cho Tòa án để Tòa án giải quyết vụ án. Nếu không cung cấp được chúng cử thì đương sự phải gánh chịu hậu quả của việc không chứng minh được. Như vậy, cung cấp chứng cứ là một hoạt động tố tụng dân sự cơ bản và rất quan trọng trong giải quyết vụ án dân sự của Tòa án.
Như vậy, kết hợp với quy định tại Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì chúng ta có thể hiểu chứng cứ trong vụ án dân sự là có thật và được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
2. Các biện pháp thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự
Căn cứ vào Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những biện pháp được áp dụng trong khi thu thập chứng cứ như sau:
Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập bằng những biện pháp sau đây:
- Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử: Đây là các hình thức chứng cứ phổ biến, dễ dàng thu thập và có tính thuyết phục cao.
- Thu thập vật chứng: Việc thu thập các hiện vật liên quan trực tiếp đến vụ án giúp củng cố các lập luận của bên liên quan.
- Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của họ: Người làm chứng có thể cung cấp thông tin quan trọng, do đó việc xác định và lấy lời khai từ họ là rất cần thiết.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan: Việc này giúp đảm bảo rằng tất cả các thông tin có liên quan đều được thu thập đầy đủ.
- Yêu cầu UBND cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng: Giúp tăng tính xác thực của lời khai.
- Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu nếu không thể tự thu thập: Đảm bảo rằng các bên có thể tiếp cận chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình.
- Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản: Giúp đảm bảo việc đánh giá tài sản một cách khách quan và công bằng.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật: Các yêu cầu này phải tuân theo quy định hiện hành để đảm bảo tính hợp pháp.
Đối với Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:
- Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng: Tòa án tiến hành hỏi trực tiếp các bên liên quan để nắm rõ các tình tiết của vụ án. Qua việc lấy lời khai, Tòa án có thể xác định các điểm chính của vụ việc và những thông tin cần thiết cho quá trình xét xử.
- Đối chất giữa các đương sự và giữa đương sự với người làm chứng: Tòa án tổ chức phiên đối chất để làm rõ các mâu thuẫn trong lời khai. Biện pháp này không chỉ giúp làm sáng tỏ thông tin mà còn tạo điều kiện cho các bên trình bày ý kiến và bảo vệ quan điểm của mình.
- Trưng cầu giám định: Trong những trường hợp có các vấn đề chuyên môn, Tòa án có thể yêu cầu các cơ quan, chuyên gia tiến hành giám định. Việc này giúp Tòa án có được các kết luận khoa học, kỹ thuật cần thiết để quyết định đúng đắn.
- Định giá tài sản: Tòa án có thể yêu cầu định giá tài sản tranh chấp để xác định giá trị thực tế của tài sản. Điều này rất quan trọng trong việc phân chia tài sản trong các vụ án dân sự.
- Xem xét, thẩm định tại chỗ: Tòa án có thể tổ chức thẩm định tại hiện trường vụ việc để có cái nhìn trực quan về các tình tiết của vụ án. Biện pháp này giúp Tòa án hiểu rõ hơn về bối cảnh và các yếu tố liên quan.
- Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ: Tòa án có thể ủy quyền cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện việc thu thập chứng cứ. Điều này giúp nâng cao hiệu quả và tính chính xác trong việc xác minh thông tin.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu: Tòa án có quyền yêu cầu cung cấp các tài liệu, hiện vật liên quan đến vụ án. Biện pháp này đảm bảo rằng Tòa án có đủ thông tin để ra quyết định chính xác.
- Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú: Tòa án tiến hành xác minh để đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan đều được tham gia đầy đủ vào quá trình tố tụng.
Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật: Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khác mà pháp luật quy định để thu thập chứng cứ cần thiết cho vụ án.
Trong các biện pháp nên trên, một số biện pháp khi Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thì Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án. Những biện pháp này được nêu rõ tại khoản 3 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Đối với thẩm tra viên trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm
Thẩm tra viên có quyền thực hiện một số biện pháp như:
- Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng: Nhằm thu thập thông tin bổ sung cho việc xem xét lại bản án.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự. Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
- Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự: Để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong giai đoạn này.
Đối với Viện kiểm sát
Viện kiểm sát cũng tham gia thu thập chứng cứ để đảm bảo quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc thu thập chứng cứ trong trường hợp này phải tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, việc thu thập chứng cứ đóng vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tính chính xác và công bằng của xét xử. Các biện pháp thu thập chứng cứ được quy định rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bao gồm việc lấy lời khai, đối chất, trưng cầu giám định, định giá tài sản, xem xét tại chỗ, ủy thác thu thập chứng cứ, yêu cầu cung cấp tài liệu, và xác minh sự có mặt của đương sự. Những biện pháp này không chỉ giúp Tòa án xác định sự thật khách quan mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Việc Tòa án ra quyết định cho từng biện pháp thu thập chứng cứ cũng thể hiện tính minh bạch và trách nhiệm trong quá trình tố tụng. Tổng thể, các biện pháp này góp phần nâng cao chất lượng xét xử và đảm bảo rằng mọi quyết định đều dựa trên căn cứ vững chắc, từ đó thúc đẩy sự tin tưởng của người dân vào hệ thống tư pháp.
Bài viết liên quan: Thời hạn thụ lý, thời hạn giải quyết vụ án dân sự là bao lâu?
Nếu quý khách hàng còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách hàng cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất. Xin trân trọng cảm ơn!