1. Tiếp công dân được hiểu là gì?

Điều 2 của Luật Tiếp công dân 2013 đặt ra định nghĩa cụ thể về hoạt động tiếp công dân như sau: Tiếp công dân là hành động của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân theo quy định tại Điều 4 của Luật Tiếp công dân, nhằm đón tiếp và lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và phản ánh của công dân; cung cấp giải thích và hướng dẫn cho công dân về cách thức thực hiện các quy định về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và phản ánh theo đúng quy định của pháp luật.

Các đơn vị, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm tiếp công dân bao gồm:

- Chính phủ;

- Các bộ, cơ quan ngang bộ; tổng cục và các tổ chức tương đương; cục;

- Ủy ban nhân dân các cấp;

- Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc trung ương; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh;

- Các cơ quan của Quốc hội;

- Hội đồng nhân dân các cấp;

- Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước;

- Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp;

- Các tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan thuộc Chính phủ và các đơn vị sự nghiệp công lập (thực hiện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình).

 

2. Tầm quan trọng của tiếp công dân trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Tiếp công dân đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước, với những điểm chính như sau:

Thứ nhất, việc tiếp công dân hỗ trợ trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Qua việc tiếp xúc với người dân, các cơ quan hành chính có thể hiểu được tâm tư, nguyện vọng, và phản hồi từ cộng đồng về việc thực thi các quy định của Đảng và pháp luật. Điều này giúp cho các cơ quan có thể điều chỉnh, bổ sung hoặc hủy bỏ các quy định không phù hợp kịp thời.

Thứ hai, tiếp công dân là một phần của việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Đây là cách cụ thể hóa quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, làm nổi bật vai trò của cộng đồng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc tổ chức tiếp dân đồng thời phản ánh quan điểm "dân là gốc" của Đảng và Nhà nước, góp phần thể hiện tinh thần "Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân".

Thứ ba, tiếp công dân còn đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết khiếu nại và tố cáo. Bằng cách này, quy trình giải quyết các vấn đề liên quan đến quyết định hành chính trở nên rõ ràng hơn và nhanh chóng hơn, thông qua việc tiếp xúc trực tiếp và trao đổi thông tin giữa người dân và cán bộ tiếp dân.

Thứ tư, tiếp công dân cũng góp phần vào việc xây dựng và tổ chức chính quyền. Bằng cách này, cộng đồng được động viên tham gia vào quản lý nhà nước và xã hội, thúc đẩy quá trình hoàn thiện công tác quản lý nhà nước và quản lý hành chính. Đồng thời, việc tiếp dân cũng giúp các cơ quan đánh giá lại cơ chế chính sách và đánh giá năng lực của cán bộ, từ đó điều chỉnh và chọn lựa nhân sự phù hợp.

 

3. Trưởng Ban tiếp công dân có nhiệm vụ và quyền hạn như thế nào?

Dựa trên Điều 14 của Luật Tiếp công dân 2013, các quy định được đề ra như sau:

- Trưởng Ban tiếp công dân có trách nhiệm quản lý và điều hành các hoạt động tại Trụ sở tiếp công dân. Ông/chị cũng phải điều hành và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các nhân viên tiếp công dân thuộc cơ quan, tổ chức thường xuyên hoạt động tại Trụ sở này.

- Trưởng Ban tiếp công dân được ủy quyền phân công công chức để thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở.

- Ông/chị có trách nhiệm chủ trì và phối hợp với đại diện của các cơ quan, tổ chức tham gia tiếp công dân tại Trụ sở, cũng như cơ quan và tổ chức hữu quan khác để chuẩn bị cho các cuộc gặp giữa lãnh đạo cơ quan Đảng, Nhà nước và người dân ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Trưởng Ban tiếp công dân có thẩm quyền yêu cầu hoặc đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan gửi người có trách nhiệm đến Trụ sở tiếp công dân để phối hợp tham gia tiếp dân trong các tình huống phức tạp hoặc khi cần thiết.

- Ông/chị có thẩm quyền yêu cầu hoặc đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị, hoặc các cá nhân có thẩm quyền xử lý các vi phạm liên quan đến tiếp dân, bao gồm việc vi phạm pháp luật về tiếp dân, nội quy và quy chế tiếp dân.

Trưởng Ban tiếp công dân đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được nêu trên.

 

4. Trách nhiệm của Ban tiếp công dân, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ giúp người đứng đầu cơ quan, đơn vị tiếp công dân

Theo quy định của Điều 10 trong Thông tư 04/2021/TT-TTCP, các điều được chỉ rõ như sau:

- Ban tiếp công dân, công chức, viên chức được phân công nhiệm vụ hỗ trợ người đứng đầu cơ quan, đơn vị tiếp công dân và cơ quan Thanh tra nhà nước hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân cùng cấp có trách nhiệm:

+ Tổ chức việc tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và thông báo cho các cơ quan, đơn vị liên quan; ưu tiên xử lý những vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh phức tạp, kéo dài hoặc có số lượng lớn người tham gia.

+ Chọn người ghi chép nội dung của cuộc tiếp công dân.

+ Chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác để người đứng đầu cơ quan, đơn vị thực hiện việc tiếp công dân.

- Các cơ quan, đơn vị liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có trách nhiệm:

+ Phối hợp với lãnh đạo cơ quan, đơn vị tiếp dân để thực hiện yêu cầu từ người đứng đầu.

+ Giao phận việc ghi chép nội dung tiếp công dân và thu thập thông tin, tài liệu từ công dân cho các công chức, viên chức phù hợp.

+ Chuẩn bị đầy đủ thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc để người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thể tiếp dân một cách hiệu quả.

- Sau khi kết thúc cuộc tiếp dân, các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm hỗ trợ người đứng đầu cơ quan, đơn vị chuẩn bị văn bản trả lời công dân.

Trong trường hợp vụ việc liên quan đến trách nhiệm của nhiều cấp, nhiều ngành, cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp phải phối hợp với các cơ quan, đơn vị, và cá nhân có thẩm quyền để nghiên cứu, phân tích về tính chất, mức độ và nguyên nhân của vụ việc, đồng thời chuẩn bị văn bản để người đứng đầu cơ quan, đơn vị trả lời công dân.

 

5. Ban tiếp công dân được thành lập để làm gì?

Dựa trên khoản 3 của Điều 10 trong Luật Tiếp công dân 2013, Ban tiếp công dân được thành lập với các nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

Ban tiếp công dân có trách nhiệm trực tiếp quản lý hoạt động tại Trụ sở tiếp công dân ở mỗi cấp, đồng thời phối hợp với đại diện của cơ quan và tổ chức có liên quan để thực hiện việc tiếp công dân định kỳ tại Trụ sở này và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân.

- Giải thích và hướng dẫn công dân về quy trình và thủ tục khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật.

- Phân loại và xử lý các đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được tiếp nhận tại Trụ sở tiếp công dân; tiến hành chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được tiếp nhận nhưng không thuộc phạm vi hoặc trách nhiệm xử lý của cơ quan, tổ chức tham gia tiếp công dân định kỳ tại Trụ sở.

- Theo dõi và đôn đốc cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý và trả lời về việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được Ban tiếp công dân chuyển đến.

- Tổng hợp tình hình và kết quả của công tác tiếp công dân tại Trụ sở; báo cáo định kỳ và đột xuất với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Vì vậy, Ban tiếp công dân được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn nêu trên theo quy định của pháp luật.

Bài viết liên quan: Cơ cấu, tổ chức của Ban Tiếp công dân các cấp quy định thế nào? 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Trưởng Ban tiếp công dân có nhiệm vụ và quyền hạn gì? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung bài viết!