1. Trường hợp cần trưng cầu giám định trong vụ án tham nhũng
Điều 4 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP đã quy định những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng và kinh tế, có hiệu lực từ ngày 01/02/2018.
Theo đó, ngoài những trường hợp bắt buộc được nêu tại Điều 206 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trưng cầu giám định tư pháp cần thiết phải thực hiện trong các trường hợp sau đây khi giải quyết các vụ án tham nhũng và kinh tế:
(1) Khi cần xác định chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của tài sản, hàng hóa, hàng giả, hàng thật, hàng cấm.
(2) Khi cần thu thập chứng cứ về tài liệu, đồ vật, chữ ký, chữ viết, con dấu, dấu vết, dữ liệu điện tử.
(3) Khi cần xác định tính chính xác của các dụng cụ cân, đo, đong, đếm và các máy móc, thiết bị khác.
(4) Khi cần xác định hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư, bao gồm:
- Về lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư dự án.
- Về đấu thầu.
- Về khảo sát, tư vấn thiết kế, thi công, giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán.
- Về quản lý vốn đầu tư, như việc tạm ứng vốn không đúng quy định, sử dụng vốn thi công không đúng mục đích, bảo lãnh cho vay vốn, tạm ứng vốn, thực hiện hợp đồng hoặc điều chuyển vốn cho vay, cho vay vốn không đúng chế độ, và các hành vi khác vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư.
(5) Trong trường hợp gặp khó khăn, vướng mắc trong việc xác định mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư gây ra, mức độ thiệt hại có thể được xác định bằng cách lấy tổng chi phí đầu tư dự án trừ đi chi phí hợp lý, hợp lệ, hoặc được xác định theo một trong các cách thức sau:
- Tiền lãi suất ngân hàng của khoản tiền đã tạm ứng vốn mà việc sử dụng khoản tiền này không đúng mục đích dẫn đến không khả năng thu hồi hoặc làm mất vốn đầu tư.
- Tiền lãi suất ngân hàng của các khoản đầu tư cho vay, ủy thác hoặc điều chuyển vốn, sử dụng vốn không đúng quy định của pháp luật gây thất thoát, lãng phí.
- Chi phí phát sinh về tiền lãi vay của khoản vốn đã đầu tư và các chi phí khác liên quan đến dự án kể từ khi dự án ngừng thi công hoặc ngừng hoạt động.
- Tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng so với tổng mức đầu tư ban đầu do hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến kéo dài thời gian thực hiện dự án hoặc làm chậm tiến độ thực hiện dự án.
(6) Khi cần xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế, tài chính, kế toán, bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán, đất đai, tài nguyên, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và các lĩnh vực khác khi thấy cần thiết.
2. Quy định về việc trưng cầu giám định trong vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế
Việc trưng cầu giám định trong vụ án, vụ việc về tham nhũng và kinh tế được quy định trong Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP, ban hành bởi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Tư pháp, có hiệu lực từ ngày 01/02/2018. Thông tư này chi tiết như sau:
- Khi có trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 4 của Thông tư này, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải xác định rõ nội dung, lĩnh vực hoặc chuyên ngành cần giám định. Họ sẽ lựa chọn tổ chức hoặc cá nhân có đủ điều kiện để thực hiện giám định và đưa ra quyết định trưng cầu giám định.
- Quyết định trưng cầu giám định phải đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 của Điều 205 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nội dung trưng cầu giám định chỉ cần đề cập đến yêu cầu chuyên môn trong lĩnh vực hoặc chuyên ngành cần giám định, không đề cập đến yêu cầu pháp lý.
- Thời hạn giám định được tính từ ngày tổ chức hoặc cá nhân được trưng cầu giám định nhận quyết định trưng cầu giám định và hồ sơ đầy đủ, đối tượng trưng cầu giám định, cùng với các tài liệu đi kèm.
Thời hạn giám định sẽ tuân thủ quyết định trưng cầu giám định. Trong trường hợp không thể tiến hành giám định trong thời hạn quy định, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện giám định phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu và người yêu cầu giám định. Đồng thời, họ cũng phải xác định thời gian dự kiến hoàn thành giám định và ban hành kết luận giám định.
- Trước khi đưa ra quyết định trưng cầu giám định, nếu cần thiết, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải phối hợp và trao đổi với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân dự kiến được trưng cầu giám định và các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân liên quan để thống nhất về nội dung trưng cầu giám định, thời hạn giám định và các vấn đề khác (nếu có).
- Trong trường hợp có nhiều nội dung cần giám định hoặc nội dung phức tạp, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thể chia thành nhiều nội dung trưng cầu giám định khác nhau và đưa ra nhiều quyết định trưng cầu giám định khác nhau để đảm bảo đáp ứng yêu cầu về tiến độ giải quyết vụ án, vụ việc.
- Trong trường hợp nội dung trưng cầu giám định liên quan đến nhiều lĩnh vực và thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải xác định lĩnh vực chính để giao trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức chủ trì và cơ quan, tổ chức phối hợp thực hiện giám định.
Cơ quan hoặc tổ chức được giao trách nhiệm chủ trì thực hiện giám định phải làm đầu mối, tổ chức việc thực hiện và ký, đóng dấu xác nhận trong kết luận giám định. Cơ quan hoặc tổ chức phối hợp cũng phải cử người tham gia thực hiện giám định.
- Trong trường hợp gặp vấn đề phức tạp trong việc phối hợp trưng cầu và thực hiện giám định, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng sẽ chủ trì và phối hợp với cơ quan, tổ chức được trưng cầu giám định và các cơ quan, tổ chức liên quan để giải quyết.
3. Nguyên tắc trưng cầu giám định, đánh giá và sử dụng kết luận giám định trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế
Nguyên tắc trưng cầu giám định, đánh giá và sử dụng kết luận giám định trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế được quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP:
- Việc trưng cầu giám định, đánh giá và sử dụng kết luận giám định trong giải quyết vụ án, vụ việc liên quan đến tham nhũng và kinh tế phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật và tuân theo các quy chuẩn chuyên môn. Điều này nhằm đảm bảo tính chính xác, khách quan và tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, vụ việc.
- Ngoài những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 206 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chỉ những trường hợp cần thiết mới được phép trưng cầu giám định theo quy định trong Thông tư liên tịch này. Điều này áp dụng khi chưa có đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội, tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
- Khi trưng cầu giám định, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải lựa chọn tổ chức hoặc cá nhân có đủ năng lực chuyên môn và điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện việc giám định trong lĩnh vực hoặc chuyên ngành cần thiết. Trong quá trình đánh giá và sử dụng kết luận giám định, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải đảm bảo xem xét và đánh giá một cách khách quan và toàn diện kết luận giám định, sử dụng nó như một căn cứ cho việc giải quyết vụ án, vụ việc.
- Tổ chức và cá nhân được trưng cầu giám định có trách nhiệm tiến hành giám định đúng thời hạn và đưa ra kết luận cụ thể về nội dung đã được trưng cầu giám định. Họ cũng phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về những nội dung đã được kết luận.
- Tổ chức và cá nhân được trưng cầu giám định phải tuân thủ nguyên tắc bảo mật và không được tiết lộ thông tin, tài liệu và kết luận giám định cho các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân không có thẩm quyền.
Không được lạm dụng việc trưng cầu, thực hiện, đánh giá và sử dụng kết luận giám định để gây cản trở quá trình giải quyết vụ án, vụ việc hoặc ảnh hưởng đến tính chính xác và khách quan của quá trình giải quyết vụ án, vụ việc.
Bài viết liên quan: Trưng cầu giám định là gì? Trưng cầu giám định trong tố tụng hình sự
Mời quý khách hàng liên hệ với Luật Minh Khuê qua số hotline: 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn, chúng tôi sẽ hỗ trợ và giải đáp thắc mắc pháp lý của khách hàng một cách nhanh chóng. Xin chân thành cảm ơn!