1. Lịch sử hình thành giám định tư pháp hình sự qua từng thời kỳ

Quá trình hình thành và phát triển của giám định tư pháp gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của 03 lĩnh vực cơ bản của nó là giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần và giám định kỹ thuật hình sự.
Giám định pháp y: Ngày 30/11/1945, Chủ tịch nước ra Sắc lệnh số 68 về vấn đề công tác tổ chức pháp y, đến ngày 25/6/1946 ra Sắc lệnh số 162 quy định về hoạt động của ngành pháp y toàn quốc. Ngày 12/12/1956 Bộ Y tế và Bộ Tư pháp ra Thông tư số 2795-HCTP quy định về một số điểm cụ thể trong công tác giám định pháp y. Đây là những văn bản pháp lý đầu tiên về giám định pháp y.
Giám định pháp y tâm thần: Ngày 14/01/1975, Hội đồng bộ trưởng có Quyết định số 15/HĐBT quy định các tỉnh, thành phố tổ chức bệnh viện tâm thần. Từ đó đến nay, hệ thống tổ chức của các bệnh viện tâm thần không ngừng được củng cố và phát triển.
Giám định kỹ thuật hình sự: Ngày 19/8/1945, lực lượng Công an Việt Nam được thành lập ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với đó là thành lập Phòng Căn cước Nha Công an Trung ương, đây chính là tiền thân của Viện Khoa học hình sự - cơ quan chuyên môn cao nhất của lực lượng Kỹ thuật hình sự tiến hành hoạt động giám định kỹ thuật hình sự ngày nay. Ngày 21/02/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23/SL và thực hiện Nghị định số 121/NĐ ngày 18/4/1946, hệ thống tàng thư căn cước được thành lập từ Trung ương đến địa phương. Tháng 8/1957, Hội nghị Kỹ thuật hình sự lần thứ nhất được tổ chức, trong đó có nội dung quan trọng là đã xác định cụ thể vai trò, nhiệm vụ của kỹ thuật hình sự và quyết định lấy ngày 23/8 trở thành ngày truyền thống của lực lượng Kỹ thuật hình sự. Tháng 4/1963, Bộ Công an đã ban hành Chỉ thị số 01 về tăng cường công tác Kỹ thuật hình sự, xác định rõ vị trí, phương châm, chế độ công tác kỹ thuật hình sự. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác bảo vệ an ninh trật tự, ngày 19/5/1978, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký quyết định số 78/QĐ-BNV thành lập Viện Khoa học hình sự. Đến ngày 10/7/1981, Bộ Nội vụ tiếp tục ra quyết định thành lập Phòng Kỹ thuật hình sự ở Công an một số tỉnh, thành phố trên cả nước. Kể từ đây, tổ chức bộ máy của lực lượng Kỹ thuật hình sự dần được củng cố và hoàn thiện như ngày nay.
Văn bản có tính quy phạm pháp luật đầu tiên về giám định tư pháp là Nghị định số 117/HĐBT, ngày 21/7/1988 của Hội đồng Bộ trưởng. Nghị định có 14 Điều, trong đó chỉ rõ những vấn đề về hoạt động giám định tư pháp như khái niệm; thẩm quyền; tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của giám định viên; chế độ, chính sách;… Đây là tiền đề quan trọng để bước đầu hình thành, xây dựng, phát triển giám định tư pháp trên các lĩnh vực kỹ thuật hình sự, pháp y, pháp y tâm thần, kế toán tài chính, văn học nghệ thuật và khoa học kỹ thuật, góp phần tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Ngoài ra, còn một số văn bản liên quan đến công tác giám định tư pháp của các Bộ, ngành như Thông tư số 78/TT ngày 26/01/1989 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định số 117 của Hội đồng Bộ trưởng; Thông tư liên tịch số 166/TTLT năm 1988 của Bộ Y Tế, Bộ Tư pháp về công tác giám định pháp y và pháp y tâm thần.
Hệ thống văn bản quan trọng có liên quan đến hoạt động giám định tư pháp là Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, 2003 và 2015. Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 dành 05 Điều luật, từ điều 130 đến điều 134 quy định các vấn đề cần thiết nhất liên quan đến giám định tư pháp gồm: trưng cầu giám định; việc tiến hành giám định; nội dung kết luận giám định; quyền của bị can đối với kết luận giám định và giám định bổ sung hoặc giám định lại. Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 dành 10 điều luật quy định chi tiết thêm một số nội dung về giám định tư pháp tại các điều 64, 73, 155, 156, 157, 158, 159, 193, 215 và 311. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã có nhiều quy định cụ thể, điều chỉnh rất quan trọng nhằm tháo gỡ những vướng mắc thực tiễn trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, đặc biệt là các quy định về thời hạn giám định và cơ chế giải quyết xung đột trong trường hợp có nhiều kết luận khác nhau về cùng một đối tượng trưng cầu.
Hệ thống văn bản liên quan trực tiếp đến giám định tư pháp còn có Pháp lệnh Giám định tư pháp 2005 và Luật Giám định tư pháp 2012, sửa đổi 2020. Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng cho việc củng cố, kiện toàn tổ chức, đội ngũ người giám định tư pháp, hoàn thiện cơ chế hoạt động, quản lý người giám định tư pháp trên toàn quốc.

2. Pháp luật tố tụng hình sự về giám định tư pháp hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định chế định giám định từ điều 205 đến điều 214.

2.1 Thứ nhất, trưng cầu giám định 

Trưng cầu giám định được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu khi thuộc 06 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định. Quyết định trưng cầu cần phải có các nội dung sau: Tên cơ quan trưng cầu giám định; họ tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định. Tên tổ chức; họ tên người được trưng cầu giám định. Tên và đặc điểm của đối tượng cần giám định. Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có). Nội dung yêu cầu giám định. Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hiện quyền công tố và kiểm sát điều tra.

2.2 Thứ hai, yêu cầu giám định

Đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. Trường hợp không chấp nhận đề nghị thì thông báo cho người đã đề nghị giám định biết bằng văn bản và nêu rõ lý do. Hết thời hạn này hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì người đề nghị giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định.
Người yêu cầu giám định có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật giám định tư pháp sửa đổi 2020.

3. Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định và thời hạn giám định

3.1 Thứ nhất, các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định

Bộ luật tố tụng hình sự quy định có 06 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định về:
- Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;
- Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;
- Nguyên nhân chết người;
- Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;
- Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;
- Mức độ ô nhiễm môi trường.

3.2 Thứ hai, thời hạn giám định

Thời hạn giám định đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định được quy định như sau:
- Không quá 03 tháng đối với trường hợp xác định tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án.
- Không quá 01 tháng đối với trường hợp xác định nguyên nhân chết người và mức độ ô nhiễm môi trường.
- Không quá 09 ngày đối với trường hợp xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó; tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động; chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ.
- Thời hạn giám định đối với các trường hợp khác thực hiện theo quyết định trưng cầu giám định.
- Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy định như trên thì tổ chức, cá nhân tiến hành giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định.
- Thời hạn giám định trên cũng áp dụng đối với trường hợp giám định bổ sung, giám định lại.

3.3 Các trường hợp giám định đặc biệt

Có 03 trường hợp giám định đặc biệt gồm: giám định lại, giám định bổ sung và giám định lại trong trường hợp đặc biệt.
Thứ nhất, giám định bổ sung
- Việc giám định bổ sung được tiến hành trong 02 trường hợp sau:
+ Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ;
+ Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó.
- Việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện.
- Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu.
Thứ hai, giám định lại
- Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện.
- Cơ quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp.
Thứ ba, giám định lại trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định. Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng mới thực hiện, những người đã tham gia giám định trước đó không được giám định lại. Kết luận giám định lại trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.

3.4 Kết luận giám định

- Kết luận giám định phải ghi rõ kết quả giám định đối với những nội dung đã được trưng cầu, yêu cầu và những nội dung khác theo quy định của Luật giám định tư pháp.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận giám định, tổ chức, cá nhân đã tiến hành giám định phải gửi kết luận giám định cho cơ quan đã trưng cầu, người yêu cầu giám định.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận giám định, cơ quan đã trưng cầu, người yêu cầu giám định phải gửi kết luận giám định cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Để làm sáng tỏ nội dung kết luận giám định, cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân đã tiến hành giám định giải thích kết luận giám định; hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần thiết.
- Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận giám định
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị trưng cầu giám định của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận giám định cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan.
Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định; đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại. Trường hợp họ trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập biên bản.
Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không chấp nhận đề nghị của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác thì phải thông báo cho người đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê