1. Trường hợp công chức vi phạm trong xử lý VPHC có thể bị buộc thôi việc

Theo quy định tại khoản 3 Điều 79 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, mà sau đó đã được điều chỉnh và bổ sung bởi khoản 15 Điều 1 của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi năm 2019, ta có một số quy định liên quan đến các hình thức kỷ luật đối với công chức. Điều này nhằm thiết lập một hệ thống quy tắc và quyền lực trong việc quản lý và xử lý công chức có hành vi vi phạm luật pháp nghiêm trọng.

Khoản 3 của Điều 79 Luật Cán bộ, công chức 2008 và các điều chỉnh liên quan, quy định về việc xử lý công chức trong trường hợp họ bị kết án phạt tù. Cụ thể, nếu một công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc nếu họ bị kết án về tội phạm tham nhũng, thì có những hậu quả sau đây:

- Công chức bị buộc thôi việc: Tức là họ sẽ bị loại bỏ khỏi công việc công chức từ ngày mà bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này, công chức không còn quyền giữ vị trí công chức và không thể tiếp tục làm công việc công chức.

- Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phạm tội: Nếu công chức đang giữ một chức vụ lãnh đạo hoặc quản lý và họ bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, thì đương nhiên họ sẽ bị thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm. Điều này đảm bảo rằng các công chức có liên quan trực tiếp đến việc phạm tội sẽ không còn ảnh hưởng đến quyền lực và tác vụ của họ trong quá trình xử lý hậu quả pháp lý.

Như vậy, công chức bị đương nhiên bị buộc thôi việc nếu họ bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng. Điều này là một biện pháp quan trọng để đảm bảo tính công bằng, trách nhiệm, và tính chính trực trong hành vi của công chức và trong quản lý nguồn nhân lực trong hệ thống hành chính công.

Ngoài những quy định liên quan đến kỷ luật công chức trong trường hợp họ bị kết án phạt tù, Luật Cán bộ, công chức và Nghị định 112/2020/NĐ-CP cũng nêu rõ rằng công chức có thể bị xem xét xử lý kỷ luật buộc thôi việc nếu họ thực hiện một trong các hành vi sau đây, theo quy định tại Điều 13 của Nghị định 112/2020/NĐ-CP:

Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức có hành vi vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Tái phạm sau khi đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức: Nếu công chức đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức trước đó và sau đó lại tái phạm, họ có thể bị buộc thôi việc.

- Hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng: Nếu công chức thực hiện hành vi vi phạm lần đầu nhưng gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, họ cũng có thể bị xem xét xử lý kỷ luật buộc thôi việc.

- Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận giả hoặc không hợp pháp để được tuyển dụng: Nếu công chức sử dụng các tài liệu giả mạo hoặc không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị, họ có thể bị buộc thôi việc.

- Nghiện ma túy: Đối với công chức có hành vi nghiện ma túy, quy định yêu cầu có kết luận từ cơ sở y tế hoặc thông báo từ cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp này, họ có thể bị xem xét xử lý kỷ luật buộc thôi việc.

- Hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho các chức vụ lãnh đạo, quản lý: Cụ thể, hình thức kỷ luật buộc thôi việc còn được áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo hoặc quản lý có hành vi vi phạm lần đầu, nhưng gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 3 của Điều 9 Nghị định này.

Như vậy, công chức có thể bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc nếu họ thực hiện một trong các hành vi trên. Điều này nhằm đảm bảo tính trách nhiệm và trật tự trong việc quản lý và xử lý các vi phạm liên quan đến hành vi của công chức trong nền hành chính công.

2. Khi nào công chức được miễn trách nhiệm bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc

Theo quy định tại Điều 77 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, luật đã đề ra một số trường hợp mà cán bộ, công chức có thể được miễn trách nhiệm, dù có một số hành vi vi phạm pháp luật. Cụ thể, công chức có thể được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

- Phải chấp hành quyết định trái pháp luật của cấp trên nhưng đã báo cáo người ra quyết định trước khi chấp hành:

Điều này ám chỉ rằng nếu một công chức bị yêu cầu thực hiện một quyết định mà họ tin rằng là trái với luật pháp hoặc không tuân theo nguyên tắc đạo đức, họ có quyền báo cáo vấn đề này cho người ra quyết định hoặc cấp trên của họ trước khi thực hiện quyết định đó. Trong trường hợp này, nếu công chức đã có báo cáo trước và vẫn bị buộc thực hiện quyết định đó, họ có thể được miễn trách nhiệm về việc vi phạm luật pháp.

- Do bất khả kháng theo quy định của pháp luật:

Điều này ám chỉ rằng nếu một công chức thực hiện một hành vi vi phạm luật nhưng có thể chứng minh rằng họ đã thực hiện hành vi đó do lý do bất khả kháng và theo quy định của pháp luật, họ có thể được miễn trách nhiệm. Tức là, nếu công chức không thể kiểm soát hoặc ngăn cản hành vi vi phạm do một nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của họ, pháp luật có thể xem xét miễn trách nhiệm họ trong trường hợp này.

Việc miễn trách nhiệm trong những trường hợp như trên nhằm bảo vệ quyền và trách nhiệm của công chức trong quá trình làm việc, đồng thời đảm bảo tính công bằng và tính hợp lý trong việc xử lý các trường hợp vi phạm luật pháp trong hệ thống hành chính công.

3. Những người có thẩm quyền xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức

Theo quy định tại Điều 24 của Nghị định 112/2020/NĐ-CP, hệ thống quyền thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với công chức được xác định rất cụ thể. Dựa vào vị trí, chức vụ và cấp bậc của công chức, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý công chức đó sẽ có quyền xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật tương ứng. Dưới đây là chi tiết các quy định trong Điều 24:

- Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc được phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm: Người đứng đầu cơ quan hoặc đơn vị này tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật.

- Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan quản lý hoặc người đứng đầu cơ quan được phân cấp quản lý công chức: Cấp quản lý công chức tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật. Đối với công chức cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quyền này.

- Đối với công chức biệt phái: Người đứng đầu cơ quan nơi công chức được cử đến biệt phái tiến hành xử lý kỷ luật và thống nhất hình thức kỷ luật với cơ quan cử biệt phái trước khi quyết định hình thức kỷ luật. Hồ sơ, quyết định kỷ luật công chức biệt phái phải được gửi về cơ quan quản lý công chức biệt phái.

- Trường hợp công chức có hành vi vi phạm trong thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ mà khi chuyển sang cơ quan mới mới phát hiện hành vi vi phạm đó và vẫn còn trong thời hiệu xử lý kỷ luật: Cơ quan cũ nơi công chức đã công tác tiến hành xử lý kỷ luật. Hồ sơ, quyết định xử lý kỷ luật phải được gửi về cơ quan nơi công chức đang công tác.

- Đối với công chức làm việc trong Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân: Thẩm quyền xử lý kỷ luật được thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức.

Tùy vào vị trí và chức vụ của công chức, quyền thẩm quyền xử lý kỷ luật buộc thôi việc sẽ nằm trong tay các cơ quan và cá nhân tương ứng. Điều này giúp đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong quá trình xử lý kỷ luật và buộc thôi việc công chức.

Xem thêm: Công chức là gì? Ví dụ và cách phân biệt công chức với viên chức?