1. Tổ chức tín dụng không phải đáp ứng tỉ lệ nợ xấu dưới 3% khi mua nợ trong trường hợp nào?

Vào ngày 26/12/2022, Thống đốc của Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 18/2022/TT-NHNN nhằm điều chỉnh và bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN liên quan đến việc mua và bán nợ của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng. Cụ thể, Thông tư này bổ sung các trường hợp mà tổ chức tín dụng không cần phải đáp ứng tỷ lệ nợ xấu dưới mức 3% khi thực hiện mua nợ:

- Các tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt sẽ thực hiện mua nợ đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định tại điều 146a của Luật Các tổ chức tín dụng 2010.

- Các tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt cũng sẽ mua nợ đáp ứng tiêu chuẩn của tổ chức tín dụng được hỗ trợ theo phương án phục hồi đã được phê duyệt theo quy định tại điều 148b của Luật Các tổ chức tín dụng.

- Ngân hàng thương mại sẽ phải bắt buộc mua nợ đáp ứng tiêu chuẩn của tổ chức tín dụng mà họ nhận chuyển giao theo phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Ngoài ra, Thông tư cũng đề cập đến các trường hợp mua nợ như sau:

- Tổ chức tín dụng được hỗ trợ sẽ mua lại nợ đã bán cho tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt theo phương án phục hồi đã được phê duyệt theo quy định tại điều 148đ của Luật Các tổ chức tín dụng.

- Tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc sẽ mua lại nợ đã bán cho ngân hàng thương mại được chuyển giao bắt buộc theo quy định tại điều 5, khoản 12, điều c của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN, được sửa đổi tại Thông tư số 18/2022/TT-NHNN.

2. Nguyên tắc trong hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

Theo quy định của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, mua và bán nợ được xác định là việc bên bán nợ chuyển giao quyền đòi nợ đối với các khoản nợ phát sinh từ hoạt động cho vay và bảo lãnh bằng văn bản. Theo đó, bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ. Tuy nhiên, Điều 5 của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN đã được sửa đổi bởi Thông tư số 18/2022/TT-NHNN và quy định về nguyên tắc thực hiện mua, bán nợ của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài như sau:

- Hoạt động mua, bán nợ không được vi phạm điều khoản của hợp đồng cấp tín dụng và hợp đồng bảo đảm giữa các bên. Điều này có nghĩa là các bên tham gia phải tuân thủ các điều khoản đã thỏa thuận trong các hợp đồng này, bao gồm cả các điều khoản liên quan đến việc mua, bán nợ. Ngoài ra, các hoạt động này cũng phải tuân thủ đúng quy định của Thông tư và pháp luật có liên quan, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và công bằng trong quá trình giao dịch. 

- Các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cần phải có sự phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước trước khi thực hiện hoạt động mua nợ. Điều này nhằm đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện một cách có trật tự và tuân thủ đúng các quy định pháp luật. Ngoài ra, tỷ lệ nợ xấu của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng phải được duy trì ở mức dưới 3% theo kỳ phân loại gần nhất. Điều này nhấn mạnh việc quản lý rủi ro và bảo vệ hệ thống tài chính khỏi các rủi ro liên quan đến nợ xấu.

- Tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài không cần phải xin phép của Ngân hàng Nhà nước khi bán nợ, nhưng chỉ được thực hiện hoạt động mua nợ khi đã có sự chấp thuận từ Nhà nước và tỷ lệ nợ xấu dưới mức 3%.

- Trước khi thực hiện mua, bán nợ, các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cần phải thiết lập các quy định nội bộ rõ ràng và chi tiết về hoạt động này. Quy định nội bộ này giúp đảm bảo rằng các bước và quy trình trong quá trình mua, bán nợ được thực hiện một cách minh bạch, công bằng và tuân thủ các quy định pháp luật. Ngoài ra, các tổ chức này cũng phải tuân thủ pháp luật về an toàn tài chính. 

- Mua lại khoản nợ đã bán chỉ được thực hiện trong những trường hợp đặc biệt và phải tuân thủ quy định của Nhà nước. Điều này nhấn mạnh rằng việc mua lại nợ đã bán là một quyết định nghiêm túc và phải được xem xét cẩn thận. Các quy định của Nhà nước thường xác định rõ ràng các điều kiện và tiêu chuẩn cần thiết để thực hiện việc mua lại nợ, bao gồm cả các điều kiện về tài chính, rủi ro và quản lý rủi ro. 

- Các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép cấp tín dụng cho khách hàng để mua nợ của chính họ. Điều này nhằm ngăn chặn các tình huống xấu có thể phát sinh nếu khách hàng sử dụng khoản vay để mua nợ của chính mình, gây ra sự xáo trộn và mất ổn định trong hệ thống tài chính.

Điều này cũng quy định rõ về việc bán một phần hoặc toàn bộ khoản nợ cho nhiều bên mua nợ, bao gồm việc phân chia giá trị tài sản đảm bảo và các điều khoản khác cần phù hợp với quy định của pháp luật. Tất cả các khoản nợ được mua và bán nợ phải được theo dõi và báo cáo kế toán theo quy định của pháp luật.

3. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong hoạt động mua nợ

Theo quy định tại Điều 16 của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng khi mua nợ, các điều sau đây được quy định:

- Quyền của bên mua nợ:

+ Yêu cầu thông tin đầy đủ: Bên mua nợ có quyền yêu cầu bên bán nợ cung cấp thông tin đầy đủ về khoản nợ đã mua, bao gồm các thông tin liên quan đến quá trình hình thành và quản lý của khoản nợ.

+ Kế thừa quyền của bên bán nợ: Bên mua nợ kế thừa toàn bộ các quyền của bên bán nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận và tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

+ Yêu cầu chuyển giao tài liệu và thủ tục: Bên mua nợ có quyền yêu cầu bên bán nợ chuyển giao tài liệu và hoàn tất các thủ tục liên quan để chuyển giao đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của bên bán nợ, tuân thủ theo thỏa thuận đã được các bên đồng ý trong hợp đồng mua, bán nợ và theo quy định của pháp luật.

+ Yêu cầu thực hiện cam kết: Bên mua nợ có quyền yêu cầu bên bán nợ thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết đã được thỏa thuận.

+ Sử dụng các quyền khác: Bên mua nợ có quyền sử dụng các quyền khác theo thỏa thuận và quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền lợi của mình và đảm bảo tính công bằng trong giao dịch mua, bán nợ.

- Nghĩa vụ của bên mua nợ:

+ Việc thực hiện việc thanh toán đầy đủ và đúng hạn cho bên bán nợ là một trong những nghĩa vụ quan trọng của bên mua nợ trong quá trình thực hiện hợp đồng mua, bán nợ. Bằng việc thanh toán đầy đủ, bên mua nợ thể hiện sự đảm bảo và cam kết với bên bán nợ về việc chấp hành các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán nợ. 

+ Các chi phí phát sinh có thể bao gồm, nhưng không giới hạn, các khoản phí liên quan đến việc xác định và đánh giá nợ, chi phí pháp lý, phí giao dịch, phí môi giới, và các chi phí khác liên quan đến việc thực hiện giao dịch mua, bán nợ. Việc thỏa thuận và chi trả các chi phí phát sinh là một phần quan trọng của quá trình đàm phán hợp đồng và đảm bảo rằng các bên đều chấp nhận và chịu trách nhiệm về các chi phí liên quan đến giao dịch. 

+ Kế thừa toàn bộ các nghĩa vụ của bên bán nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận, tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Điều này bao gồm các nghĩa vụ về việc thanh toán nợ, bảo đảm tính chính xác của thông tin liên quan đến nợ, và tuân thủ các điều khoản pháp luật liên quan đến nợ đó.

+ Thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận và quy định của pháp luật.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Nợ xấu là gì? Phân loại và cách xóa nợ xấu nhanh như thế nào? 

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!