Thưa luật sư, Xin luật sư cho hỏi: Tự do cá nhân là gì? Pháp luật Việt Nam ghi nhận như thế nào về quyền tự do cá nhân? Rất mong nhận được hồi đáp từ luật sư, Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Giang Ngọc - Hà Nam
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
2. Cá nhân là gì? Tự do cá nhân là gì?
Cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất gồm những đặc điểm riêng về thể chất, tâm sinh lý, hoàn cảnh sống, có mối liên hệ hữu cơ, chặt chẽ với xã hội và thể hiện "cái tôi" trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.
Tự do cá nhân là quyền của con người với những đặc điểm riêng về thể chất, tâm sinh lý được sống và hoạt động trong lĩnh vực dân sự theo ý nguyện của mình trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.
3. Sự hình thành và phát triển những quy định về tự do cá nhân trong Hiến pháp của Nhà nước ta
Tự do cá nhân là một trong những nội dung cấu thành quyền con người nó vừa mang tính tự nhiên, phổ biến, vừa mang tính xã hội, có tính đặc thù, gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kình tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước.
3.1. Hiến pháp năm 1946
Ở Việt Nam, tự do cá nhân được đặt ra xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, từ bản chất của chế độ ta. Trong tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được hưởng tự do và độc lập là quyền cơ bản, quan trọng nhất, quyết định toàn bộ những nội dung tự do cá nhân khác. Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trưòng Ba Đình Hà Nội ngày 2-9-1945 đã thể hiện rõ quan điểm này: "Nưốc Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nưởc tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".
Điều thứ 10 Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận quyền tự do cư trú, đi lại với tính chất là quyển công dân: "Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài".
Các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư tín, quyền được bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự cũng đã được ghi nhận tại các điều thứ 11, 12, 67, 68, trong đó đáng chú ý Điều thứ 11 quy định: "Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam.
Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam, không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật".
Việc Nhà nước ta chính thức ghi nhận về mặt pháp lý những quyền tự do cá nhân nói trên ngay sau khi mới giành được chính quyền, thể hiện tính chất ưu việt, tiến bộ của chế độ dân chủ nhân dân. Để có thể thấy hết tính ưu việt của những quy định này, có thể dẫn chứng: trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền được thông qua theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10-12-1948 của Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng đã ghi nhận các quyền trên tại các điều 3, 5, 9, 11, 13... Ví dụ: Điều 13 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền quy định:
"1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi một quốc gia.
2. Mỗi người đều có quyền rời khỏi một nước, kể cả chính nưổc mình và có quyền trở lại nước mình".
Từ sự phân tích ở trên cho thấy, trong Hiến pháp năm 1946, Nhà nước ta đã chính thức ghi nhận những quyền tự do cá nhân cơ bản với tính chất là quyền công dân, tạo thành nội dung chủ yếu của quyền con người. Đây là thành tựu kỹ thuật lập pháp đáng ghi nhận của nước ta về quyền tự do cá nhân.
3.2. Hiến pháp năm 1959
Cùng với sự phát triển của Cách mạng Việt Nam, nội dung quyền tự do cá nhân ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn và được Nhà nước ta ghi nhận về mặt pháp lý, đồng thời bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Trong Hiến pháp năm 1959, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân đã được quy định cụ thể hơn so với Hiến pháp năm 1946 tại Điều 27: "Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được bảo đảm. Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân". Điều 28 Hiến pháp năm 1959 cũng đã quy định cụ thể hơn quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, thư tín: "Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật".
3.3. Hiến pháp năm 1980
Trong Hiến pháp năm 1980, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, một trong những quyền tự do cá nhân quan trọng của con người là quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, danh dự, nhân phẩm đã chính thức được ghi nhận tại Điều 70: "Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng,, tài sản, danh dự và nhân phẩm". So với Hiến pháp năm 1959, quyền bất khả xâm phạm vể chỗ ở, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín cũng được Hiến pháp năm 1980 quy định cụ thể hơn tại Điều 71:
"Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.
Không ai được tự ý vào chỗ ỏ của người khác nêu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Việc khám xét chỗ ở phải do đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyển tiến hành, theo quy định của pháp luật.
Bí mật thư tín, điện thoại, điện tín được bảo đảm.
Quyền tự do đi lại và cư trú được tôn trọng, theo quy định của pháp luật".
3.4. Hiến pháp năm 1992
Đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, cụm từ "quyền con người" đã chính thức được ghi nhận tại Điều 50: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật". So với các hiến pháp trước đây, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe đã được bổ sung tại Điều 71:
"Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân".
Trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), suy đoán vô tội - nguyên tắc tiến bộ của nền văn minh nhân loại, đã được chính thức ghi nhận tại Điều 72: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Cũng tại Điều này, Nhà nước ta thể hiện thái độ kiên qụyết bảo vệ các quyền tự do cá nhân: "Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh". Quy định này hoàn toàn phù hợp với Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền:
"Mỗi bị cáo đã bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên tòa xét xử công khai vối mọi đảm bảo biện hộ cần thiết.
Không ai bị coi là phạm tội về bất cứ hành động hoặc không hành động nào đã xảy ra vào thời điểm mà theo pháp luật quốc gia hay luật quốc tế không cấu thành một tội phạm hình sự. Tương tự như vậy, không ai bị tuyên hình phạt nặng hơn mức hình phạt được áp dụng vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội".
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định rõ ràng hơn về quyền tự do đi lại và cư trú so với Hiến pháp năm 1980: "Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật" (Điều 68); quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín cũng đã được quy định cụ thể hơn tại Điều 73: "Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật".
3.5. Hiến pháp năm 2013
Từ sự phân tích ở trên cho thấy, quyền tự do cá nhân đã từng bước được Nhà nước ta ghi nhận và bảo đảm thực hiện phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nưốc và các tiêu chuẩn tiến bộ về quyền tự do cá nhân đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Quyền tự do cá nhân là gì? Lịch sử hình thành và ghi nhận quyền tự do cá nhân ở Việt Nam". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê