1. Khái niệm về thương mại

Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng (barter). Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ... cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó.

2. Tự do hóa thương mại là gì?

Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài.

3. Lý thuyết thương mại tự do của Ricardo

David Ricardo (18 tháng 4 năm 1772–11 tháng 9 năm 1823) là một nhà kinh tế học người Anh, có ảnh hưởng lớn trong kinh tế học cổ điển sánh ngang cùng Adam Smith và Thomas Malthus. David Ricardo là người cổ vũ thương mại tự do dựa trên lý luận với lợi thế so sánh. Ông đã tiếp bước Adam Smith và đóng góp lớn vào việc phát triển thuyết giá trị lao động. Các lý luận của ông đã ảnh hưởng đáng kể đến tư tưởng kinh tế của Karl Marx. David Ricardo cũng là một thương gia, chuyên gia tài chính, nhà đầu cơ, ông được coi là người đã tích lũy được một tài sản lớn.

Thời đó, Ricardo đã nhìn thấy hai hướng đi cho tương lai nước Anh. Thứ nhất, với tư cách là những người thiển cận, hòn đảo của những người theo phái bảo hộ tự cô lập mình, tách ra khỏi hàng hoá của thế giới. Và nếu nước Anh lựa chọn con đường thứ nhất, thì nền kinh tế sẽ sụp đổ. Hãy nhớ lại lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, khi hàng hoá của nước khác sản xuất ra rẻ hơn hàng hoá cùng loại của mình thì nên mua hàng hoá của họ và bản thân mình hãy dùng các nguồn lực để sản xuất ra các hàng hoá khác có lợi thế hơn. Thứ hai, với tư cách là một nhà buôn hướng ngoại, nước Anh hãy hành động như một công xưởng của thế giới. Theo ông, nước Anh cần phải chuyên môn hoá các hoạt động sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh. Chuyên môn hoá bất cứ cái gì nếu như phải đầu tư các nguồn lực ít nhất, và sự hy sinh mà nhà sản xuất phải chịu đựng do không sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó chính là chi phí cơ hội của họ. Do đó, chuyên môn hoá được quyết định bởi ai có được chi phí cơ hội thấp hơn. Theo Ricardo thì thương mại tự do là hoàn toàn có thể thực hiện được với những gia đình tiêu dùng nhiều hàng hoá hơn, bất chấp việc những đối tác buôn bán tiến bộ hoặc kém hơn mình về kinh tế.

Ricardo hàm ý rằng chủ nghĩa bảo hộ ở các quốc gia giàu có có thể làm cho các nước nghèo hơn đi vào con đường trì trệ. Điều đó ngược với việc hỗ trợ hàng trăm triệu đô la dưới hình thức các khoản vay hoặc viện trợ nước ngoài, trong khi lại dựng lên những hàng rào thuế quan trong thương mại với người dân. Chẳng hạn như dưới sức ép của các nhà sản xuất đường trong nước, Quốc hội Mỹ đã ngăn chặn các chương trình hỗ trợ phát triển cho các nước vùng Caribê. Hạn ngạch nhập khẩu đường bị thắt chặt từ 6 triệu tấn năm 1977 xuống còn 1,2 triệu tấn năm 1998. Và liệu rằng các chủ trang trại tại vùng phía Nam biên giới Mỹ có trả đũa bằng việc buôn lậu các sản phẩm cacao và ma tuý, những hàng hoá thu lợi nhuận cao với khả năng tiêu thụ lớn tại thị trường của Mỹ không?

Câu hỏi được đặt ra là liệu người giàu có bị tổn hại khi làm ăn với người nghèo không, nếu không thì tại sao Châu Âu, Mỹ lại bị tổn hại khi mua giầy của các nước đang phát triển? Trên thế giới đã có quốc gia nào giàu lên nhờ tự cung, tự cấp? Liệu tất cả các quốc gia khu vực trên thế giới đều dựng lên các hàng rào thương mại? Câu trả lời là không. Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều quốc gia đã tham gia Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) được xây dựng nhằm thúc đẩy tự do thương mại. Các vòng đàm phán thương mại đa phương sau đó đã được triển khai nhằm cắt giảm hàng rào thuế quan thế giới. Tuy nhiên, nguy cơ về chủ nghĩa biệt lập trong bảo hộ vẫn tồn tại.

Về bản chất lý thuyết thương mại tự do của Ricardo không hề có luận điểm nào chứng minh rằng thuế quan lúc nào cũng sai. Đơn giản theo ông thuế quan ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Do đó, những lời khẩn cầu của ông về việc giúp đỡ người tiêu dùng, tăng thêm công ăn việc làm là dựa vào quan điểm thương mại tự do. Mặc dầu vậy, một quốc gia có thể sử dụng một cách thận trọng chính sách bảo hộ của mình vì mục tiêu an ninh, ổn định chính trị trong những thời điểm cụ thể nào đó mà thôi.

Thông qua lợi thế so sánh, Ricardo đã nhìn thấy nước nước Anh nổi lên như là một công xưởng của thế giới. Bất chấp những lạc quan về quan điểm tự do thương mại, một vài nhà kinh tế vẫn phác hoạ chân dung của Ricardo như một nhà phân tích và suy diễn bi quan. Nhưng tương lai về sự tự do hoá thương mại đó đã có sức mạnh nền tảng tạo ra lối mòn, làm cho các nhà chính trị phải quyết định đi theo con đường đó. Con đường thứ hai là khi chấp nhận học thuyết dân số của Malthus (xem Todd G. Buchholz, 1999), Ricardo nhận thấy rằng dân số tăng dẫn tới cầu về lương thực tăng, dẫn đến việc mở rộng canh tác những vùng đất xấu với chi phí canh tác cao hơn. Hậu quả là chi phí canh tác cao mà hiệu quả thấp. Nếu cứ tiếp tục mở rộng canh tác ở những vùng đất xấu thì chủ đất được lợi từ thu địa tô còn nhà tư bản lại bị thiệt hại. Đất đai cạn kiệt nhưng người dân vẫn đói. Không đồng tình với quan điểm của Malthus là hạn chế mức tăng dân số bằng các biện pháp kiểm soát sinh, Ricardo vẫn tiếp tục đấu tranh cho thương mại tự do. Khi giá lương thực ở Anh tăng cao do mức cầu cao thì nên để cho các hàng hoá đó được nhập khẩu từ nước ngoài. Các nhà kinh tế, các nhà công nghiệp và kinh doanh cần tập trung phát triển những lĩnh vực có lợi thế so sánh cao hơn và xuất khẩu các hàng hoá đó ra bên ngoài. Dựa vào luận điểm này mà các lý thuyết cạnh tranh kinh tế được thiết lập, tiêu biểu hơn cả là lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter.

Mặc dầu lý thuyết của Ricardo được truyền bá khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng những quốc gia Châu Âu là nơi kiểm chứng tốt nhất lý thuyết của ông. Họ đã hoàn thành cam kết vào năm 1992, bãi bỏ tất cả những rào cản thương mại còn lại, mang lại thắng lợi cục bộ cho học thuyết Ricardo tại Châu Âu. Cho tới nay, nông dân Đức, Pháp vẫn còn được bảo hộ, Hà Lan vẫn chống nhập khẩu hoa từ Nam Phi, đó là các trường hợp cá biệt.

4. Lợi thế cạnh tranh quốc gia của M.E.Porter

Michael Eugene Porter (sinh ngày 23 tháng 5 năm 1947) là Giáo sư của Đại học Harvard, Hoa Kỳ; nhà tư tưởng chiến lược và là một trong những "bộ óc" quản trị có ảnh hưởng nhất thế giới; chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của thế giới; là cha đẻ của lý thuyết lợi thế cạnh tranh của các quốc gia. Michael E. Porter là cố vấn trong lĩnh vực cạnh tranh cho lãnh đạo nhiều nước như Hoa Kỳ, Ireland, Nga, Singapore, Anh. Ông đã được chính phủ nhiều nước mời tư vấn về chiến lược cạnh tranh quốc gia. Năm 2009 và 2010, ông chủ trì thực hiện "Báo cáo năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2010".

M.E.Porter đã dựa vào kinh tế Mỹ, lợi thế cạnh tranh của các ngành công nghiệp để xây dựng lý thuyết hình kim cương, hay còn gọi là lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của mình. Môi trường cạnh tranh theo ông được sinh ra trong một khung cảnh nào đó, giống như hình kim cương bốn đỉnh. Theo lý luận này, thông tin, nhân tố kích thích, sức ép cạnh tranh, doanh nghiệp chủ lực, thể chế, hạ tầng cơ sở, năng lực công nghệ... đều có tác động tích cực tới việc nâng cao năng suất của nền kinh tế quốc gia. Việc nâng cao năng suất một cách bền vững đòi hỏi bản thân nền kinh tế của  mỗi quốc gia phải nâng cấp không ngừng. Điều đó đồng nghĩa với các doanh nghiệp phải nỗ lực nâng cao năng suất, bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến công nghệ và hạ giá thành. Chỉ có bằng con đường đó các doanh nghiệp mới có thể tham gia vào thị trường cạnh tranh. Thị trường thương mại và đầu tư theo hướng tự do hoá đã tạo ra các cơ hội nâng cao năng suất của tất cả các quốc gia, đồng thời cũng gây sức ép buộc các công ty phải luôn duy trì năng suất cao. Do đó, mỗi nước có thể tập trung vào một ngành nào đó mà doanh nghiệp của mình có lợi thế và nhập khẩu những hàng hoá và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài sản xuất nếu năng suất sản xuất trong nước thấp hơn. Porter đã tổng hợp phương pháp nghiên cứu của mình và xây dựng mô hình lý luận bốn nhân tố có vai trò chủ chốt ban đầu cho cạnh tranh thành công ở một ngành là kết hợp các yếu tố sản xuất, nhu cầu trong nước, cạnh tranh trong nước và công nghiệp hỗ trợ. Theo Porter nếu cạnh tranh trong nước quyết liệt thì cạnh tranh quốc tế sẽ thành công.

Lý luận của Porter cũng đã xét tới vai trò của chính phủ trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Đối với chính phủ thì nhiệm vụ quan trọng nhất là tích cực tạo ra môi trường nâng cao năng suất, giảm bớt các can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh và loại bỏ các rào cản thương mại, bảo hộ. Ngoài ra chính phủ cũng cần tích cực đầu tư phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội. Nói khác đi là chính phủ cần tạo ra môi trường thuận lợi cho cạnh tranh chứ không tham gia trực tiếp vào cạnh tranh. Đối với các doanh nghiệp, Porter chỉ ra rằng nhiều lợi thế cạnh tranh nằm bên ngoài. Hơn nữa việc tập trung ngành giúp cho các công ty có thể xây dựng được chuỗi cung ứng, bổ sung cho nhau về sản phẩm. Như vậy, vị trí địa lý chiếm vai trò quan trọng trong tư duy chiến lược của các công ty theo quan điểm tập hợp ngành, để mở rộng mạng lưới sản xuất và tiêu thụ nhờ vào chính sách tự do hoá thương mại và đầu tư.

Tại một thị trường không có các khoản chi phí về xuất nhập khẩu, nếu công ty nào đó (hoặc một quốc gia nào đó) không có phản ứng đối với những nhân tố kích thích thì chắc chắn sẽ có những công ty khác với các sản phẩm giá thấp hơn, chất lượng tốt hơn sẽ tham gia vào thị trường và gây thiệt hại cho các công ty bản địa. Giả sử các điều kiện khác không thay đổi, nếu như rào cản thương mại không cao thì động cơ khuyến khích sản xuất và xuất khẩu sẽ nằm ở những nơi có chi phí thấp và năng suất cao nhất. Trên thị trường thế giới có nhiều công ty tham gia cạnh tranh thì lợi thế cạnh tranh của các công ty thường dựa vào lợi thế so sánh từ sự dư thừa các yếu tố sản xuất tại nước mình để đảm bảo khả năng phản ứng một cách tích cực tại thị trường mới. Trước khi tham gia vào thị trường quốc tế, các công ty đã đáp ứng đủ yêu cầu của thị trường nội địa, hơn thế họ còn đi trước các đối thủ cạnh tranh quốc tế. Do vậy, mặc dầu phải đối mặt với các công ty xuyên quốc gia, nhưng các công ty này vẫn tạo ra được lợi thế trong môi trường kinh doanh mới.

Lý thuyết của Porter cũng chú ý đặc biệt tới những điều kiện bất lợi như thiếu tài nguyên thiên nhiên, thị trường trong nước bão hoà đã kích thích hoạt động xuất khẩu. Đối với sự trỗi dậy của Đông Á, nếu dùng lý luận cạnh tranh của Porter để giải thích thường có sức thuyết phục hơn dựa vào lý thuyết thương mại truyền thống. Tại sao Đông Á lại thực hiện chính sách kinh tế hướng về xuất khẩu? Porter cho rằng, cạnh tranh của công ty trong nước được quyết định bởi mức độ dư thừa các yếu tố sản xuất tiên tiến, mức cầu trong nước, mức độ cạnh tranh trong ngành. Lấy Nhật Bản làm thí dụ, nhu cầu về máy tính của Nhật Bản tăng rất nhanh, hơn nữa nhiều công nghệ cao hàng đầu thế giới được phổ biến và ứng dụng ở Nhật Bản. Ngành máy tính của Nhật Bản được lợi trực tiếp nhờ sự phồn vinh của các ngành liên quan như đồ điện gia dụng, linh kiện điện tử, máy in, máy chữ. Chính phủ Nhật Bản tích cực đào tạo hàng loạt kỹ sư công nghệ, và đầu tư nhiều cho các hoạt động R&D. Bốn công ty lớn là Fujitsu, NEC, Hitachi, IBM là bốn công ty mạnh nhất trên thị trường Nhật Bản về đồ điện gia dụng và máy tính. Đồng thời năng lực cạnh tranh của các công ty này trên thị trường máy tính Châu Âu không có công ty nào sánh kịp. Hàng hoá điện tử gia dụng của Nhật Bản tràn ngập thị trường thế giới.

Ở những nước công nghiệp hoá mới châu Á (NICs), đằng sau lợi thế cạnh tranh có được do mở cửa thị trường, một mặt họ tiếp thu công nghệ nhập khẩu hiện đại, mặt khác họ thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá giá rẻ có lợi thế cạnh tranh cao. Mặc dầu NICs phụ thuộc vào Mỹ và Nhật Bản về công nghệ chế tạo bộ vi xử lý, màn hình tinh thể lỏng... nhưng các quốc gia này cũng rất mạnh dạn sản xuất các linh kiện điện tử, chế tạo bộ nhớ động ngẫu nhiên kích thước lớn (DRAM). Về sau DRAM của Hàn Quốc với kích thước 2 Megabyte trở thành sản phẩm cạnh tranh có sức mạnh trên thị trường thế giới không hề thua kém các sản phẩm cùng loại của Mỹ và Nhật Bản. Đóng góp của Porter về khía cạnh quản lý ở chỗ ông nhấn mạnh chính phủ cũng như tư nhân cần đầu tư vào các công trình thuộc khu vực công, hai bên đều phải có trách nhiệm phối hợp, loại bỏ những bất đồng và chi phí thương mại không đáng có để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty và quốc gia.

Năng lực cạnh tranh của Porter cũng phù hợp với quan điểm của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), được quyết định bởi tám yếu tố. Đó là, mức độ mở cửa của nền kinh tế (bao gồm mức độ tự do hoá thương mại và đầu tư), vai trò chính phủ, năng lực tài chính, kết cấu hạ tầng, trình độ công nghệ, trình độ quản lý của doanh nghiệp, chất lượng lao động, thể chế kinh tế và chính trị. Nhưng mức độ mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới là rất quan trọng. Nó được xác định bởi chính sách xuất nhập khẩu, thu hút FDI, dịch vụ tài chính bảo hiểm... Porter cũng cho rằng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tỷ lệ thuận với mức độ mở của của nền kinh tế. Tuy nhiên, xoá bỏ thương lợi đối với một nhóm lợi ích nào đó là công việc rất khó khăn. Bởi vì nó liên quan tới việc làm của người lao động. Do đó quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế thương lợi sang một nền kinh tế tự do cạnh tranh là một quá trình dài, có trật tự giành được sự đồng thuận của cả ba bên: nhà nước, doanh nghiệp và người lao động.

5. Lý thuyết mới về thương mại của Paul Krugman

Paul Robin Krugman (sinh ngày 28 tháng 2 năm 1953) là một nhà kinh tế học người Hoa Kỳ, giáo sư của Đại học Princeton. Chuyên ngành chính của ông là kinh tế học vĩ mô quốc tế. Ông là một đại biểu của trường phái kinh tế học Keynes mới.

Trong kinh tế học Krugman nổi tiếng hơn cả với tư cách là người sáng lập ra lý thuyết mới về thương mại quốc tế hiện nay. Đây được xem là một cuộc cách mạng trong tư duy thương mại quốc tế. Bởi vì trong suốt cả một thời kỳ dài, từ đầu thế kỷ 19 đến thập kỷ 1970, lý thuyết thương mại quốc tế được xây dựng dựa trên ý tưởng của Ricardo về lợi thế so sánh và sau đó được phát triển thông qua lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Porter.

Công trình giúp ông được nhận giải thưởng Nobel kinh tế năm 2008 là sự phân tích của ông về vai trò của lý thuyết thương mại mới trong hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong thương mại quốc tế và địa lý kinh tế. Các lý thuyết trước đây cho rằng thương mại quốc tế diễn ra trên cơ sở các điều kiện khác biệt giữa các quốc gia về yếu tố sản xuất. Một số nước dư thừa lao động nhưng lại thiếu vốn, trong khi một số nước khác lại nhiều vốn nhưng thiếu lao động. Kết quả là những nước chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu, được cho là có lợi thế so sánh và nhập khẩu những mặt khác kém lợi thế hơn. Càng ngày người ta càng nhận thấy các lý thuyết này không thể giải thích được những hiện tượng trong thương mại quốc tế đang diễn ra khắp nơi. Một trong những hiện tượng đó là thương mại nội ngành (intra-industry trade) như việc Mỹ xuất khẩu ô tô sang Nhật Bản và Châu Âu, nhưng cũng nhập khẩu ô tô từ Nhật Bản và Châu Âu. Nếu dựa vào lợi thế so sánh thì trao đổi thương mại trong ngành công nghiệp này không thể xảy ra, bởi vì một mặt hàng chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế đến nơi không có lợi thế để sản xuất mặt hàng đó. Lý thuyết về lợi thế so sánh cũng không thể giải thích được tại sao Đài Loan, Hàn Quốc lại thành công trong việc chuyển xuất khẩu quần áo, giầy dép vào thập niên 1960 sang xuất khẩu máy tính, ô tô sang thị trường Mỹ như ngày nay.

Năm 1976, trong một lần nghe bài giảng của Solow người được giải thưởng Nobel kinh tế năm 1956, Krugman đã hiểu được khái niệm cạnh tranh độc quyền đó là sự cạnh tranh xảy ra khi những nhà sản xuất có được lợi thế cạnh tranh độc quyền và những nhãn hiệu, sản phẩm nhất định. Ý tưởng vận dụng khái niệm cạnh tranh độc quyền trong thương mại quốc tế chợt nảy ra và ông đã trình bày các ý tưởng mới nhưng đã bị các báo chí từ chối đăng tải. Mãi tới năm 1979 bài báo 10 trang của ông được đăng trên tạp chí kinh tế quốc tế, lập tức gây được sự chú ý đặc biệt của giới học thuật trong ngành và Paul Krugman trở thành cha đẻ của lý thuyết thương mại mới khi ông mới 26 tuổi. Trong bài báo, Krugman (1979) đã đưa ra lý thuyết hoàn toàn mới về thương mại quốc tế, giải thích rằng quan hệ thương mại nội bộ ngành dựa trên giả định về lợi thế theo quy mô, theo đó việc sản xuất trên quy mô lớn đã làm cho chi phí sản xuất giảm. Bên cạnh lợi thế quy mô sản xuất, ông còn dựa trên giả thiết người tiêu dùng cũng quan tâm tới tính đa dạng của sản phẩm. Do hai đặc tính này, mà lợi thế theo quy mô của các nhà sản xuất và sự ưa thích về tính đa dạng của người tiêu dùng tạo điều kiện cho người sản xuất trở thành các nhà sản xuất độc quyền đối với các nhãn hiệu sản phẩm của mình, kể cả khi phải chịu áp lực cạnh tranh từ các nhãn hiệu hàng hoá khác.

Lý thuyết của Krugman cũng giải thích tại sao thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa những nước có lợi thế tương đối về công nghệ và các yếu tố sản xuất tương tự nhau. Thí dụ, Mỹ và Châu Âu, cùng lợi thế tương đối về vốn và công nghệ nhưng Mỹ xuất khẩu xe ô tô Ford và nhập khẩu xe BMW của Châu Âu. Xảy ra điều này là vì sự ưa thích tính đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng, cho phép cả hai cũng có lợi thế tương đương nhau, sản xuất những hàng hoá của mình. Ngoài ra Paul Krugman còn là người đi tiên phong trong lý thuyết địa kinh tế. Luận điểm quan trọng của lý thuyết này là các hãng có xu hướng xác định vị trí sản xuất của mình tại những nơi trung tâm đông đúc dân cư và dồi dào vốn, tham gia sản xuất vừa là người tiêu dùng, hàng hoá sẽ đa dạng hơn và rẻ hơn. Chi phí vận chuyển sẽ tăng cao nếu trung tâm sản xuất tập trung tại một khu vực nhất định nào đó. Muốn giảm chi phí vận chuyển hàng hoá phải lập ra nhiều trung tâm sản xuất, đó là nguyên nhân đẩy nhanh quá trình đô thị hoá và tập trung hoá sản xuất.

Lý thuyết thương mại mới của Krugman đã trở thành một bộ phận chính trong các lý thuyết thương mại quốc tế, bổ sung cho các lý thuyết về lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra ông còn là một nhà dự báo xuất sắc về nguy cơ khủng hoảng tài chính. Trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính Châu Á, hầu hết các nhà kinh tế đều ca ngợi về sự thần kỳ của Đông Á. Cuối thập niên 1990, ông đã đưa ra một loạt cảnh báo trong các bài viết của ông về kinh tế Nhật Bản, kinh tế Hàn Quốc giải thích sự suy thoái kinh tế của các quốc gia này là do tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư và lao động, trong khi năng suất lại thấp và các chính sách tiền tệ không hiệu quả.