1. Thương mại và chính sách cạnh tranh (chống độc quyền)

Có lẽ sự kéo dài hợp lý nhất các quy tắc thương mại (bên cạnh việc kết nối thương mại với các luật tài chính quốc tế) là sự hướng dẫn về cạnh tranh. Tự do hóa thương mại tháo dỡ nhiều điều kiện cần thiết cho việc sử dụng sức mạnh độc quyền bên trong các quốc gia, nhưng thị trường quốc tế có thể cần được giám sát vì hành vi câu kết và lợi dụng khách hàng. Một số nguyên tắc đã được thiết lập của GATT/ WTO hiển nhiên không áp dụng cho sự điều hành chính sách cạnh tranh toàn cầu: yêu cầu về không phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp và tính chất trao đổi có đi có lại thì không có liên quan gì, mặc dù sự đối xử quốc gia có một ý nghĩa nào đó trong việc áp dụng luật cạnh tranh. Các quy tắc về cạnh tranh có thể đặt cơ sở trên ba nguyên tắc: sự thiết lập các quy tắc về cạnh tranh trong tất cả các quốc gia buôn bán (như trong hiệp định TRIPS), sự thực thi những quy tắc này, và sự hợp tác giữa các cơ quan quyền lực về cạnh tranh để tạo điều kiện dễ dàng cho công tác chống độc quyền. Đối với một số người, việc di chuyển các vấn đề về chính sách cạnh tranh vào khuôn khổ của WTO là một phương cách cải tiến hiệu quả kinh tế và làm đối trọng với hiệp định TRIPS; đối với một số người khác đây lại là mối đe dọa cho các công ty độc quyền của nhà nước hoặc của địa phương, cho bản thân cơ cấu công nghiệp hoặc cho các điều khoản thương mại lâu đời như là luật chống độc quyền chẳng hạn (OECD 1996b; Graham và Richardson 1997).

2. Thương mại và môi trường

Hiệp định GATT 1947 được dự thảo trong một thời kỳ trước khi những đề tài “môi trường” hiện lên trên màn hình ra-đa của các nhà chính trị và các quan chức thương mại. Các điều khoản của GATT ít khi đề cập tới những chương trình môi trường có thể có tác động về mặt thương mại. Điều XX(b) của GATT cho phép nhiều hạn chế thương mại, nếu không muốn nói là bất hợp pháp, “cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe con người, gia súc hoặc cây trồng”; và Điều XX(g) cho phép nhiều hạn chế thương mại “liên quan tới việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt nếu những biện pháp như vậy được làm cho có hiệu lực trong mối liên kết với những sự hạn chế về sản xuất hoặc tiêu thụ trong nước”.

Thương mại và phong trào môi trường được thúc đẩy trong những năm đầu thập kỷ 1990 bởi hàng loạt quyết định dũng để diễn dịch Điều XX(g). Trong những quyết định được biết tới nhiều nhất, một ủy ban giải quyết tranh chấp của GATT cho rằng một hạn chế thương mại chỉ có thể được biện minh theo Điều XX(g) nếu như các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang tranh tụng nằm trong phạm vi quyền thực thi pháp lý của quốc' gia đang duy trì biện pháp thương mại ấy. Sự hạn chế viện dẫn Điều XX(g) như thế này dẫn tới kết luận của một ủy ban rằng việc áp dụng Luật Bảo vệ loài thú lớn ở biển của Hoa Kỳ đã mâu thuẫn với Hiệp định GATT. Đặc biệt, có hai ủy ban cho rằng Hoa Kỳ không thể tiếp tục cấm nhập khẩu cá ngừ từ những quốc gia sử dụng các kỹ thuật đánh cá dẫn tới việc giết chết tràn lan loài cá heo. ở một trong các trường hợp có căn cứ nhất, ủy ban đã lập luận rằng lệnh cấm nhập khẩu của Hoa Kỳ là một phần trong nỗ lực bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiệt bên ngoài quyền thực thi pháp lý của nó. Những trường hợp này (Hoa Kỳ - Những hạn chế nhập khẩu cá ngừ (1991) và Hoa Kỳ - Những hạn chế nhập khẩu cá ngừ (1994)) cho thấy khả năng thực thi các thỏa thuận đa phương về môi trường (multilateral environmental agreements - MEAs) đi liền với hạn chế thương mại (chẳng hạn như Công ước về Thương mại Quốc tế đối với Những giống loài có nguy cơ tuyệt chủng (CITES)) sẽ có thể bị coi là trái với GATT (WTO 1994).

Mặc dù có một số trường phái tư tưởng về vấn đề này, luật học của WTO dường như đã làm suy yếu giá trị vốn có của trường hợp Hoa Kỳ - Cá ngừ - Cá heo. Trong những năm đầu tiên của WTO một số quốc gia đã thách thức lệnh cấm của Hoa Kỳ đối với việc nhập khẩu tôm từ các nước cho phép đánh bắt tôm bằng lưới mà không đòi hỏi phải sử dụng thiết bị loại trừ loài rùa. Việc không sử dụng một thiết bị như thế dẫn tới sự suy kiệt loài rùa biển. Cơ quan Phúc thẩm của WTO xử lý nhanh chóng vấn đề quy mô của quyền thực thi pháp luật của Điều XX(g) mà lưu ý rằng loài rùa biển là sinh vật di cư tồn tại trong vùng biển của Hoa Kỳ và vì thế các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang tranh tụng đã được phân bố trong phạm vi quyền thực thi pháp luật của Hoa Kỳ. Dù sao thì Cơ quan Phúc thẩm cũng đã làm rõ rằng một số biện pháp nhập khẩu nào đó thuộc vào loại vấn đề như vừa nêu trong trường hợp trên có thể phù hợp với Điều XX. ở mức độ này thì nó đã làm suy giảm trường hợp Hoa Kỳ - Cá ngừ-Cá heo (Howse 2002a). Cũng vào thời gian đó nó tiếp tục tìm cách chứng minh vì những lý do khác mà các biện pháp của Hoa Kỳ không trở thành ngoại lệ với Điều XX(g). Hoa Kỳ tuân thủ phán quyết về trường hợp Hoa Kỳ - Tôm-Rùa và tuân thủ ngoại lệ của GATT và điều chỉnh chút đỉnh các biện pháp của mình song vẫn duy trì lệnh cấm nhập khẩu đó (WTO 1998b, 2001). Dù sao đi nữa các nhà hoạt động môi trường cũng thấy đây là một ví dụ khác về các phương thức mà theo đó hệ thống WTO/GATT đã làm xói mòn công cuộc bảo vệ môi trường (Grunbaum 2002).

3. Các vấn đề về môi trường được các nhà hoạt động quan tâm

Rộng hơn nữa, các nhà hoạt động môi trường quan tâm nhiều nhất tới hai vấn đề. Một là, họ lo ngại rằng các thành viên WTO sẽ không có khả năng hạn chế nhập khẩu những thứ có hại cho môi trường của chính mình. Hai là, họ sợ rằng một thành viên của WTO có thể sẽ không có khả năng hạn chế nhập khẩu việc sản xuất và chế biến những thứ làm hại môi trường bên ngoài lãnh thổ của nước thành viên đó - như trong trường hợp Hoa Kỳ - Cá ngừ-Cá heo và trường hợp Hoa Kỳ - Tôm-Rùa nói trên. Họ đặc biệt quan tâm đến những điều khoản thương mại của MEAs có thể sẽ bị những quy tắc của WT0 coi là bất hợp pháp. Và họ đoán rằng tính chất bất hợp pháp của các biện pháp thương mại nhắm tới hoạt động bên ngoài phạm vi phân xử sẽ khuyến khích dòng vốn đầu tư rời bỏ những phạm vi phân xử thân thiện với môi trường hơn và tạo thuận lợi cho một “cuộc đua tới đáy” trong lĩnh vực tiêu chuẩn môi trường (Steinberg 2002).

Mặc dù những mục tiêu về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường đã được bao hàm trong phần mở đầu của WT0, thỏa thuận WT0 lại có rất ít nội dung liên quan tới những mối quan tâm này. Cuộc tranh cãi chung quanh vấn đề WT0 có liên can đến các vấn đề môi trường mật thiết đến mức nào đã được tăng cường trong thời kỳ tiếp theo sau Vòng Uruguay.

4. Thương mại và tiêu chuẩn lao động

Hiện thời vấn đề tiêu chuẩn lao động chưa được bàn tới trong WTO mặc dù chúng được đề cập một cách gián tiếp trong một số thỏa thuận. Hiệp định GATT đề cập trực tiếp tới vấn đề này một cách sát sườn nhất là Điều XX(e), điều khoản không cho phép các hạn chế thương mại bất hợp pháp “liên quan tới sản phẩm sử dụng lao động của tù nhân”. Đề tích hợp các tiêu chuẩn lao động và từ đó sử dụng cơ chế dàn xếp tranh chấp để phân xử là cả một bước tiến quan trọng. Áp lực đến từ một nguồn khác hơn là sự ủng hộ những hạn chế nhiều hơn đối với đầu tư, sức khỏe, an toàn và bảo vệ sở hữu trí tuệ. Nhưng kết quả có thể sẽ giống nhau: thâm nhập sâu hơn nữa vào việc áp dụng các quy tắc thương mại “sau biên giới”.

Một số nhà hoạt động nghiệp đoàn ở châu Âu và Hoa Kỳ phản đối thẳng thừng việc tự do hóa thương mại trên cơ sở rằng nó sẽ chuyển dịch sản xuất và việc làm tới những nền kinh tế có mức lương thấp hơn. Lý thuyết kinh tế đã có một câu trả lời cho sự lo lắng đó: việc làm được tạo ra nhiều hơn sẽ là sự đền bù cho việc làm mất đi trong một nền kinh tế tự do thương mại.

5. Quan điểm về tiêu chuẩn lao động

Những lý lẽ hợp lý hơn đối với quy định của WTO về tiêu chuẩn lao động có thể chia thành hai nhóm. Thứ nhất, một số người cho rằng các tiêu chuẩn lao động đơn thuần (chẳng hạn như hiệp hội nghề nghiệp tự do hoặc mặc cả tập thể) là thuộc về nhân quyền và hệ thống WTO phải bảo vệ những quyền con người này. Hai là, một số người cho rằng nếu như không đưa các tiêu chuẩn lao động vào WTO thì sẽ có một “cuộc đua tới đáy”. Cũng như cuộc tranh luận chung quanh luật về lao động trẻ em trong nội bộ nước Mỹ vào đầu thế kỷ vừa qua cho rằng các tiểu bang riêng lẻ áp dụng luật đó sẽ thấy mình không thể cạnh tranh nổi với các tiểu bang không áp dụng luật ấy, đã có lập luận rằng giờ đây cần có các tiêu chuẩn toàn cầu để bảo vệ các quốc gia nào cố gắng bảo vệ công nhân của mình (Cleveland 2003).

Sự phản đối việc tích hợp các tiêu chuẩn lao động thì cho rằng nó sẽ tạo vũ khí cho các quốc gia nào muốn hạn chế thương mại để đẩy các tiêu chuẩn đó lên cao hơn, ngoài khả năng đáp ứng của các nước đang phát triển. Hơn thế nữa, hạn chế thương mại dựa trên tiêu chuẩn lao động của nước ngoài có vẻ như đối lập với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, trong đó quy định mọi nhà cung cấp tiềm năng đều có quyền tiếp cận ngang nhau với một thị trường nào đó. Và không phải dễ nhìn thấy làm thế nào các quốc gia có thể trao đổi những sự nhân nhượng và cho nhau những sự đổi chác có đi có lại trong lĩnh vực tiêu chuẩn lao động. Nguyên tắc nằm đằng sau các đề xuất quy tắc của WTO về lao động có vẻ như là một sân chơi bình đẳng toàn cầu cho cuộc chạy đua cấm vận thương mại tới đỉnh cao.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)