- 1. Mối quan tâm về thương mại của các tổ chức công đoàn
- 2. Sự ngăn cản nhập khẩu những sản phẩm từ các nước có tiêu chuẩn lao động thấp
- 3. Cộng đồng châu Âu đấu tranh cho lập trường của các tổ chức nghiệp đoàn
- 4. Những con đường khác liên quan tới thương mại để thúc đẩy các quyền lợi về lao động
- 5. Các phong trào khác, kể cả phong trào chống toàn cầu hóa và thương mại
1. Mối quan tâm về thương mại của các tổ chức công đoàn
Các tổ chức công đoàn nêu lên ba mối quan tâm về thương mại. Trước tiên, cũng như các tổ chức bảo vệ môi trường, các nghiệp đoàn quan tâm đến một cuộc đua tới đáy liên quan tới tiêu chuẩn lao động của quốc gia. Cũng như trong bối cảnh về môi trường, cái lô-gic kinh tế xem ra rất thuyết phục: nếu như tất cả mọi điều kiện khác đều như nhau, quyết định địa điểm đầu tư sẽ bị ảnh hưởng bởi tính khắt khe tương đối của các quy định về lao động ở các quốc gia khác nhau và hiện tượng này sẽ gây sức ép kéo thấp tiêu chuẩn lao động ở những nước nào quan tâm tới việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên chứng cứ về một cuộc 'chạy đua tới đáy trong lĩnh vực tiêu chuẩn lao động thì rất yếu ớt và chỉ có một bằng chứng yếu ớt về bất kỳ mối quan hệ có ý nghĩa nào về mặt thống kê giữa tính khắt khe tương đối của các quy định về lao động với mức độ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (Flanigan 2002). Cũng giống như các nhà hoạt động môi trường, các nhà hoạt động nghiệp đoàn muốn sử dụng những biện pháp thương mại để đối lại với một cuộc đua tới đáy có thể diễn ra.
Hai là nhiều nhà hoạt động nghiệp đoàn xem “các tiêu chuẩn lao động cốt lõi” như là những quyền căn bản của con người cần phải được thực thi thông qua các biện pháp thương mại. Trong khuôn khổ luật pháp quốc tế có những lý lẽ vững chắc rằng các tiêu chuẩn lao động nào đó giờ đây đã được thừa nhận rộng rãi như là quyền căn bản của con người và có tính phổ quát; những quyền đó bao gồm cả quyền mặc cả tập thể và quyền tự do lập hội, quyền không bị biến thành nô lệ, sự bãi bỏ lao động trẻ em và sự bình đẳng về cơ hội làm việc giữa nam và nữ (Cleveland 2002). Những quyền này giờ đây đã được khẳng định trong Tuyên bố tháng 6-1998 của Tổ chức Lao động Quốc tế (EO) về Những quyền lao động căn bản.
Ba là, một số nhà hoạt động nghiệp đoàn cho rằng, thật là bất công khi một số quốc gia nào đó có thể giành được lợi thế so sánh bằng cách duy trì các tiêu chuẩn lao động tương đối yếu kém. Lập luận ở đây không phải là một luận cứ năng động dẫn tới tối ưu hóa tình trạng phúc lợi toàn cầu mà chỉ đơn giản là thật không công bằng khi các quốc gia có tiêu chuẩn lao động ngặt nghèo - chẳng hạn như Hoa Kỳ và phần lớn các quốc gia Tây Âu - thì mất dần các công việc lao động áo xanh do kết quả của tự do hóa thương mại. Từ quan điểm kinh tế, những lý lẽ như vậy có thể bị bỏ qua: thương mại tự do gia tăng phúc lợi toàn cầu và phúc lợi trong mỗi quốc gia tự do; những hệ quả trái ngược về phân phối trong nội bộ từng quốc gia thương mại có thể được sửa chữa thông qua thuế và các chính sách xã hội. Tuy nhiên, vì đây là một vấn đề chính trị, cho nên dễ hiểu rằng ở các nước yếu kém trong việc duy trì những chương trình hỗ trợ sự điều chỉnh thương mại như Hoa Kỳ thì các đại diện của giới lao động thường than phiền về công cuộc tự do hóa thương mại.
2. Sự ngăn cản nhập khẩu những sản phẩm từ các nước có tiêu chuẩn lao động thấp
Nhiều nhà hoạt động công đoàn thích sử dụng các biện pháp chống lại những sản phẩm nhập khẩu từ các nước có tiêu chuẩn lao động thấp song trong phần lớn trường hợp quy tắc của WTO ngăn cản điều đó. Điều XX(e) của Hiệp định GATT cho phép tiến hành những hạn chế thương mại chống lại việc nhập khẩu những sản phẩm sản xuất bằng lao động của tù nhân nhưng không có quyền hạn chung nào cho việc áp đặt những biện pháp thương mại chống lại hàng hóa sản xuất tại một quốc gia có thành tích nhân quyền kém, tiêu chuẩn lao động trẻ em non yếu, thiếu sự tôn trọng đối với quyền tự do lập hội hoặc quyền mặc cả tập thể, có những mô thức phân biệt đối xử trong tuyển dụng hoặc có mức lương tối thiểu quá thấp hoặc không tồn tại mức lương tối thiểu. Một số quốc gia đã đề xuất khả năng rằng Cơ quan Kháng cáo của WTO nên đưa ra sự diễn dịch rộng rãi nhiều trường hợp ngoại lệ khác nhau của Hiệp định GATT (chẳng hạn những trường hợp cho phép áp dụng biện pháp thương mại để bảo vệ đạo đức công cộng ở điều XX(a) hoặc bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của con người ở điều XX(b) nhằm hỗ trợ cho các mối quan tâm về lao động (Cleveland 2002)), nhưng việc làm luật cấp tiến như vậy xem ra khó mà thực thi được. Hơn thế nữa, mọi sự thay đổi luật pháp như vậy có khả năng sẽ dẫn tới một cuộc khủng hoảng do các quốc gia đang phát triển thúc đẩy trong WTO vì các nước này vẫn kiên trì phản đối quyền sử dụng các biện pháp thương mại để chống lại các quốc gia có tiêu chuẩn lao động yếu kém.
3. Cộng đồng châu Âu đấu tranh cho lập trường của các tổ chức nghiệp đoàn
Tiếp theo sau việc thành lập WTO, Cộng đồng châu Âu đã cùng với các lãnh đạo đảng Dân Chủ và chính quyền của Tổng thống Bill Clinton ở Hoa Kỳ đấu tranh cho lập trường của các tổ chức nghiệp đoàn trong WTO. Có những lúc việc này đặt các quyền lực xuyên Đại Tây dương vào thế đối lập với các nước đang phát triển là những nước phản đối việc bao hàm các vấn đề lao động vào nghị trình WTO. Các nước đang phát triển lo ngại rằng các biện pháp thương mại được tuyên bố là dựa trên lao động sẽ được sử dụng cho những mục tiêu bảo hộ. Hơn thế nữa, họ phản đối lập luận dựa trên các lý thuyết về một “cuộc đua tới đáy” và sự bất công được coi là kết quả của lợi thế so sánh bắt nguồn từ các tiêu chuẩn lao động yếu kém. Trong những năm đầu của WTO có vẻ như Hoa Kỳ và châu Âu đã đạt được một số tiến triển trong các vấn đề lao động ở WTO: tháng 12-1996 tại Hội nghị Bộ trưởng ở Singapore, các bộ trưởng WTO tuyên bố nối lại “cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn lao động cốt lõi đã được quốc tế thừa nhận” đồng thời tuyên bố rằng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là “cơ quan có thẩm quyền thiết lập và xử lý những tiêu chuẩn này”. Điều này đã làm nóng vai trò của ILO, đến năm 1998 thì tổ chức này thông qua Tuyên ngôn về Quyền Lao động Căn bản mà chúng tôi miêu tả ở trên. Nhưng cùng với việc đảng Dân chủ thất cử ở Hoa Kỳ trong kỳ bầu cử năm 2000, EC chỉ còn lại một mình trong cuộc đấu tranh cho quyền lao động ở WTO. Do đó các vấn đề lao động đã bị đưa ta khỏi phạm vi thương thảo của Vòng Doha. Các cuộc thương thảo này chỉ khẳng định lại những gì đã tuyên bố tại hội nghị Singapore trước kia và lưu ý những công việc mà ILO đã thực hiện.
4. Những con đường khác liên quan tới thương mại để thúc đẩy các quyền lợi về lao động
Có những con đường khác liên quan tới thương mại để thúc đẩy các quyền lợi về lao động. Chống bán phá giá, áp thuế bú thiệt hại, và các hành động bảo vệ đã được sử dụng để bảo vệ quyền lợi của lao động trong bối cảnh mà những quy chế và thỏa thuận của WTO đã xác định. Trên địa bàn khu vực, ủy ban Hợp tác Lao động Bắc Mỹ cung cấp một phương tiện mà theo đó các tổ chức nghiệp đoàn và những người khác có thể kiến nghị để khởi sự một quy trình công bố công khai những hành vi chống lại lao động nào đó của bất kỳ chính phủ Bắc Mỹ nào. Tương tự như vậy, tất cả các nước thành viên của Cộng đồng châu Âu và tất cả các quốc gia đang cố gắng gia nhập Cộng đồng châu Âu đều phải tham gia định chế nhân quyền châu Âu - định chế này cung cấp một số sự bảo hộ về pháp lý cho quyền lợi của lao động, về mặt đối nội, nhiều chương trình quy chế của Hoa Kỳ, chẳng hạn như Hệ thống Ưu đãi Chung (GSP) và Luật về Cơ hội và Tăng trưởng châu Phi, cho phép đình hoãn việc đối xử ưu đãi với hàng hóa từ một số quốc gia đang phát triển nào đó nếu các quốc gia ấy chấm dứt sự tôn trọng các tiêu chuẩn lao động cốt lõi. Tương tự như vậy, quy chế GSP của EC ràng buộc mức độ ưu đãi của EC với sự thực hiện và thực thi của một quốc gia đối với các công ước đặc thù của Tổ chức Lao động Quốc tế mặc dù Ấn Độ đã khởi sự một thách thức đối với biện pháp đó vào tháng 12-2002. Ngoài ra, Quốc hội Hoa Kỳ luôn luôn có thể gia tăng sự hỗ trợ điều chỉnh thương mại để nâng đỡ và tái đào tạo những công nhân bị mất việc do tự do hóa thương mại. Trong khu vực tư nhân, một khi các chương trình hoạt động xã hội có thể được thiết lập và vận dụng, các tập đoàn công ty có thể vận dụng các bộ quy tắc ứng xử cho các hoạt động toàn cầu của mình, và sự kiện tụng xuyên quốc gia có thể khích lệ các tập đoàn này tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế (OECD 2000; Koh 1991; Compa 2002). Cuối cùng có vẻ như phát triển kinh tế sẽ tạo ra những điều kiện chính trị nội địa thuận lợi cho sự vận dụng các tiêu chuẩn lao động đã cải thiện; trong khi công cuộc phát triển kinh tế là một tiến trình chậm rãi nó lại tạo điều kiện dễ dàng cho một giải pháp cho vấn đề liên quan tới lao động trong trường kỳ (OECD 1996b).
5. Các phong trào khác, kể cả phong trào chống toàn cầu hóa và thương mại
Ngoài ra, rất nhiều các nhà hoạt động vì những mục tiêu đặc thù rất khác nhau cũng tìm cách ảnh hưởng đến các cuộc đàm phán thương mại quốc tế. Trong quá trình chuẩn bị cho Vòng Doha, phong trào có ý nghĩa nhất là cộng đồng hỗ trợ y tế ở thế giới đang phát triển, tập trung ở các tổ chức như Oxfam và Bác sĩ Không Biên giới. Các tổ chức này cho rằng bản quyền sáng chế làm giá thuốc chữa bệnh tăng lên ở các nước châu Phi hạ Sahara. Họ sử dụng chiến thuật gọng kềm, vừa hoạt động để tạo ra sự hỗ trợ về chính trị cho lập trường của họ ở các nước đã phát triển, nhất là ở châu Âu, vừa hỗ trợ các đoàn đại biểu của các nước đang phát triển trong việc đề xuất những kết quả đàm phán. Với sự gia tăng quy mô hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại WTO, dường như có rất nhiều nỗ lực được tập trung đặc biệt như vậy, chẳng hạn như nỗ lực xem xét những vấn đề về sở hữu trí tuệ, về thực phẩm biến đổi gen, và về những mối quan tâm thuộc về cấu trúc cơ bản như tính cân xứng của quyền đại diện của thế giới đang phát triển trong các cuộc đàm phán của WTO.
Phong trào chống toàn cầu hóa, từng đóng vai trò trong các cuộc biểu tình đường phố ở Seattle và sau đó tại nhiều hội nghị, cuộc họp quốc tế khác, đã tập hợp tất cả những lời chỉ trích từ các nhà hoạt động phi nhà nước mới thành một cuộc tổng công kích vào WTO - và thường là nhắm vào bất kỳ thể chế nào cổ vũ cho sự luân chuyển tự do hơn của hàng hóa và tư bản. Ngoài việc bao quát những mối quan tâm của các nhà hoạt động môi trường và các tổ chức nghiệp đoàn, như đã trình bày trên, các nhà phản đối toàn cầu hóa than phiền rằng thương mại tự do hơn phá hủy các doanh nghiệp địa phương bằng cách buộc các doanh nghiệp này phải đối mặt với thị trường toàn cầu, làm xáo trộn các nền văn hóa bản địa và văn hóa dân tộc; tạo điều kiện thuận lợi cho sự lan truyền các thuộc tính tầm thường của văn hóa Mỹ, làm trầm trọng sự bất công về kinh tế quốc nội và toàn cầu, và hoạt động chủ yếu vì lợi ích của các tập đoàn, các ngân hàng đa quốc gia. Nỗ lực hòa trộn những lời than phiền này vào các thành phần đã được phân tích rõ của họ đôi khi bị làm sai lệch thành những hành động vô ích, cho rằng hệ thống là không thể sửa chữa được mà cần bị vứt bỏ.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)