Các nhà bảo vệ môi trường đã nêu lên ba tập hợp các mối quan tâm chủ yếu liên quan tới thương mại. Theo đó:
1. Biện pháp bảo vệ môi trường ở các nước
Mối quan tâm bền bỉ nhất của các nhà hoạt động môi nường là các biện pháp bảo vệ môi trường được thực thi một cách khác nhau và ở các cấp độ khác nhau từ nước này sang nước khác có thể dẫn tới một “cuộc đua tới đáy” tầm cỡ quốc tế trong các quy định về môi trường (Stewart 1977; Etsy và Geradin 2001). Logic kinh tế cho thấy, các quyết định đầu tư vào nơi nào đều bị ảnh hưởng bởi tính nghiêm ngặt tương đối của các quy định về môi trường ở các nước khác nhau: nếu như tất cả các điều kiện khác đều như nhau thì nhà sản xuất sẽ thích đặt nhà máy của mình trong một phạm vi tài phán mà họ tốn ít chi phí để tuân thủ các quy định về môi trường. Theo kinh nghiệm, có rất ít chứng cứ cho thấy có sự liên quan giữa mức độ thu hút đầu tư nước ngoài của một quốc gia với tính nghiêm ngặt hoặc sự thực thi các quy định bảo vệ môi trường của quốc gia đó; cũng có ít chứng cứ về một' “cuộc đua tới đáy” trong quy định về môi trường (Etsy và Geradin 2001). Tuy nhiên, có một chứng cứ không quan trọng song đáng chú ý là đối với các ngành cực kỳ “bẩn” (chẳng hạn việc tái chế kim loại từ bình điện cũ) quyết định chọn địa điểm đầu tư thường bị ảnh hưởng bởi quy định về môi trường và cái logic kinh tế của lời than phiền này là có sức thuyết phục. Hơn thế nữa, cho dù đúng hay sai thì về mặt chính trị, nhận thức của các nhà bảo vệ môi trường cũng là vấn đề.
Phương pháp mà các nhà bảo vệ môi trường ưa thích khi đề cập vấn đề này là khẩn cầu ủy ban châu Âu (EC) và Hoa Kỳ áp đặt những hạn chế thương mại chống lại hàng hóa sản xuất ở nước ngoài trừ phi sự sản xuất đó tuân thủ các quy tắc khắt khe về môi trường. Nghiên cứu cho thấy sự phát triển kinh tế, vốn có thể được nuôi dưỡng bằng tự do thương mại, có mối tương quan mật thiết với những quy định chặt chẽ về môi trường nhưng đây là một hiện tượng lâu dài mà các nhà bảo vệ môi trường ít khi thỏa mãn được (Grossman và Krueger 1994). Hơn thế nữa, các nhà bảo vệ môi trường tìm được những đồng minh chính trị tự nhiên trong nỗ lực sử dụng các hạn chế thương mại vì mục tiêu môi trường: các nhà sản xuất đang phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu thường rất sung sướng ủng hộ những chính sách hạn chế này, hình thành một hên minh “giữa thánh thần và người trần thế” giữa các nhà sản xuất với các nhà hoạt động môi trường.
Nhưng những hạn chế thương mại như vậy thường đụng chạm các quy tắc của GATT/WTO. Điều XX(g) loại trừ một số biện pháp thương mại được áp dụng vì “bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt”. Ví dụ, những quyết định ban đầu của ủy ban dàn xếp tranh chấp của GATT về Điều XX(g) cho rằng nguồn tài nguyên thiên nhiên đang được tranh tụng phải nằm trong lãnh thổ hoặc phạm vi tài phán của quốc gia áp đặt biện pháp thương mại ấy. Nhưng trong vụ Hoa Kỳ - cấm nhập khẩu một số loại tôm và sản phẩm tôm (2000) - một quyết định mới hơn và có quyền lực hơn của Cơ quan Phúc thẩm có thể được hiểu như là xóa bỏ yêu cầu về phạm vi tài phán đối với việc viện dẫn Điều XX(g), và nó thiết lập nên một mê cung rối rắm những rào cản pháp lý khó vượt qua để duy trì tính phù hợp với quy tắc của WTO đối với bất kỳ biện pháp thương mại nào được áp đặt vì mục tiêu bảo vệ môi trường (Grunbaum 2002). Có lẽ đối với các nhà môi trường, điều làm cho họ bối rối nhất đã được nói rõ trong các trường hợp đầu tiên của GATT và logic của những quyết định này cho rằng các thành viên của WTO là các bên trong một thỏa thuận môi trường đa phương (MEA) chẳng hạn như Công ước về buôn bán quốc tế các động vật có nguy cơ (CITES) sẽ không thể duy trì các hạn chế thương mại được ủy quyền hoặc được cho phép bởi MEA đó chống lại các thành viên WTO không phải là một bên trong MEA.
2. Các quy tắc của WTO có thể ảnh hưởng đến môi trường
Các nhà bảo vệ môi trường lo rằng các quy tắc của WTO có thể sẽ ngăn cản các chính phủ trong việc áp đặt các hạn chế nhập khẩu được dự tính chống lại sự đầu độc môi trường quốc nội. GATT có hai ngoại lệ cung cấp cơ sở ban đầu cho việc hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ môi trường quốc nội: Điều XX(g) mô tả ở trên và Điều XX(b) cho phép áp dụng một số biện pháp thương mại để bảo vệ cuộc sống, sức khỏe hoặc sự an toàn của con người, động vật và thực vật. Trong khi những ngoại lệ này bề ngoài có vẻ rộng rãi song việc viện dẫn chúng sao cho thành công vẫn có những hạn chế đáng kể. Ví dụ trong như đã nói trong vụ Hoa Kỳ - luật tái chế xăng dầu (1996), biện pháp thương mại đang tranh tụng phải cung cấp những phương tiện ít phiền toái nhất để đạt tới những mục tiêu mà Điều XX miêu tả. Để được biện minh theo Điều XX(b) biện pháp thương mại đó phải là “cần thiết” cho việc bảo vệ cuộc sống, sức khỏe và sự an toàn. Gánh nặng của việc chứng minh này được giao cho nước thành viên duy trì biện pháp bị thách thức đó. Hơn thế nữa, một trong các thỏa thuận của WTO dự định khích lệ những ngoại lệ này - chẳng hạn như Hiệp định về Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (Hiệp định SPS) đòi hỏi phải có chứng cứ khoa học về tác hại có thể tránh được bằng cách áp dụng biện pháp hạn chế thương mại theo SPS. Yêu cầu này đã được sử dụng trong vụ EC - Các biện pháp liên quan tới Thịt và Sản phẩm Thịt (Hoóc môn) (1998) để thách thức thành công một chỉ thị của EC ngăn cấm việc nhập khẩu thịt bò từ các đàn gia súc được vỗ béo bằng hóc-môn tăng trưởng, gây phẫn nộ cho nhiều nhà hoạt động môi trường và các nhóm người tiêu dùng.
3. Ủng hộ các chính sách, sản phẩm bảo vệ môi trường
Trong khi những mối quan tâm về môi trường đã trình bày trên đã tồn tại dai dẳng tại GATT/WTO từ cuối thập niên 1980, một tập hợp thứ ba các vấn đề thương mại-môi trường rộng rãi hơn nữa cũng đã được nêu lên. Ví dụ các nhà bảo vệ môi trường ủng hộ việc giảm thuế nhập khẩu và hạn chế thương mại đối với các sản phẩm và dịch vụ có công năng làm lành mạnh môi trường (chẳng hạn các sản phẩm năng lượng mặt trời). Họ cũng ủng hộ những quy định có hiệu lực hơn về việc đánh bắt cá như là một phần các cuộc thương thảo của WTO. Họ đã tuần hành chống lại việc chính phủ trợ cấp cho những cung cách sản xuất không phù hợp với môi trường, chẳng hạn như tố giác về trợ cấp dành cho ngành công nghiệp khai thác gỗ mềm ở Canada. Họ ủng hộ việc đưa ra thương thảo các dự án khai thác lợi nhuận xuyên biên giới quốc gia. Và họ cũng đã đấu tranh làm sáng tỏ các quy tắc thương mại cho phép “gắn nhân xanh” lên sản phẩm tiêu dũng (Steinberg 2002c).
4. Vấn đề môi trường bắt đầu được WTO quan tâm
Trong khi lập trường của những nhà bảo vệ môi trường về những vấn đề này gây ra sự phản đối chính trị mạnh mẽ thì không có đề xuất nào của họ về căn bản là không tương thích với cái mục tiêu chính sách của công cuộc tự do hóa thương mại vốn là tâm điểm của hệ thống WTO. Chỉ có những nhà hoạt động môi trường cực đoan nhất mới lên tiếng chống lại tự do hóa thương mại mà lãng quên những luận cứ rằng thương mại tự do dẫn tới sự sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên và giảm sự xuống cấp của môi trường; thay vì vậy họ chỉ nhấn mạnh rằng thương mại tự do hơn dẫn tới quy mô lớn hơn trong sản xuất toàn cầu và làm môi trường bị xuống cấp.
Cho đến khi Vòng Doha được khởi động năm 2001, GATT/ WTO đã làm được rất ít trong việc tích hợp những mối quan tâm này của các nhà hoạt động môi trường vào nghị trình thương thảo của mình. Những thay đổi vào phút cuối trong các thỏa thuận của Vòng Uruguay cung cấp những cam kết mơ hồ và mang tính cổ vũ cho “sự phát triển bền vững” và môi trường. Nhưng các thương thuyết gia của các nước đang phát triển phản đối bất kỳ cam kết trọng yếu nào thiên về môi trường trong các thỏa thuận đó. Trong khi Vòng Uruguay đã thiết lập một ủy ban Thương mại và Môi trường (CTE) để tìm hiểu khả năng có những thỏa thuận tương lai về chủ đề này, ủy ban đã bị bế tắc ngay đường ranh phân cách Bắc-Nam (Shaffer 2002). Cuối cùng vào năm 2001, Chương trình Làm việc Doha bao gồm một sự ủy nhiệm đặc biệt đã bắt đầu thương thảo về ba đề tài môi trường liên quan tới thương mại: (1) quan hệ giữa các quy tắc hiện hành của WTO với những nghĩa vụ thương mại đặc thù trong các MEA; (2) các quy trình thủ tục trao đổi thông tin thông thường giữa các ban thư ký MEA và các ủy ban có liên quan của WTO; và (3) việc cắt giảm hoặc xóa bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan đối với các sản phẩm và dịch vụ môi trường.
5. Các quy định, quyết định của WTO liên quan đến vấn đề môi trường
Một điểm sáng khác cho các nhà bảo vệ môi trường có lẽ là hai bộ quyết định của Cơ quan Phúc thẩm của WTO. Một bộ liên quan tới một điều luật của Hoa Kỳ cấm nhập khẩu tôm từ các quốc gia không sử dụng các thiết bị loại trừ rùa biển trong lưới đánh tôm. Quyết định của Cơ quan Phúc thẩm vừa nói trên không cho là luật của Hoa Kỳ không phù hợp với WTO mà nó lập ra một tiêu chí theo đó điều luật có thể được coi là phù hợp với luật pháp của WTO và có thể được coi là làm suy yếu các quyết định trước đó của một ủy ban dàn xếp tranh chấp đòi hỏi áp đặt những hạn chế nghiêm ngặt về quyền tài phán dựa trên Điều XX(g) đã miêu tả ở trên. Tiếp theo là việc Hoa Kỳ chỉnh sửa các quy định nhằm thực thi điều luật đang có nghi vấn, và các nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm thương thảo một thỏa thuận nhiều bên về đề tài này; năm 2001, trong vụ Hoa Kỳ - Hạn chế nhập khẩu Tôm Rùa - viện dẫn Điều 21.5 của DSU bởi Malaysia (2001) Cơ quan Phúc thẩm đã tuyên bố rằng điều luật tôm-rùa được sửa đổi của Hoa Kỳ là phù hợp với WTO chừng nào mà các cuộc đàm phán nhiều bên vẫn đang diễn ra. Trong một quyết định thứ hai được nhiều nhà hoạt động môi trường ủng hộ, vụ Cộng đồng châu Âu - Các biện pháp ảnh hưởng đến asbestos và sản phẩm có chứa asbestos (2001), Cơ quan Phúc thẩm đã cho rằng lệnh cấm mà nước Pháp áp đặt lên việc nhập khẩu xi măng có chứa asbestos không phải là phân biệt đối xử thiên vị cho loại xi măng đã loại bỏ chất asbestos bởi vì những ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng của asbestos, hàm ý rằng hai loại xi mãng này không phải là những “sản phẩm tương tự nhau” theo ý nghĩa của Điều m, thỏa thuận GATT.